14:39 | 13/06/2018

Tiền gửi kho bạc hỗ trợ ngân hàng

Nhờ nguồn tiền gửi của kho bạc, tổ chức tín dụng sẽ có cơ hội lớn để giảm giá vốn bình quân, từ đó có điều kiện để giảm lãi suất cho vay, gia tăng năng lực cạnh tranh. 

Tìm hiểu về lợi ích của việc mua chứng chỉ tiền gửi
Công cụ quan trọng đảm bảo an toàn hệ thống
NHNN đã có văn bản quy định rõ trách nhiệm của các TCTD nhận tiền gửi

Một báo cáo mới đây của Công ty Chứng khoán Rồng Việt cho biết, sau khi theo dõi báo cáo tài chính 16 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán, ghi nhận tổng lượng tiền gửi Kho bạc Nhà nước tính đến cuối quý I/2018 vào khoảng 253.000 tỷ đồng, giảm 20.000 tỷ đồng so với cuối năm 2017. Tiền gửi kho bạc trong hệ thống ngân hàng chủ yếu nằm trong những NHTM có vốn nhà nước chi phối.

Ảnh minh họa

Số liệu thống kê cũng cho thấy trong quý I/2018 mặc dù lượng tiền gửi kho bạc tại Vietcombank giảm 24% so với cùng kỳ, nhưng đây vẫn là ngân hàng nắm giữ lớn nhất với 60% tổng lượng tiền gửi kho bạc trong ngân hàng. Tiếp theo là BIDV và VietinBank, Agribank cũng đang là ba ngân hàng có lượng tiền gửi kho bạc đang tăng đáng kể trong thời gian này.

Nhờ nguồn tiền gửi của kho bạc, tổ chức tín dụng sẽ có cơ hội lớn để giảm giá vốn bình quân, từ đó có điều kiện để giảm lãi suất cho vay, gia tăng năng lực cạnh tranh. Với riêng Vietcombank, nguồn tiền này cũng giúp cho ngân hàng thu xếp thành công thương vụ thoái vốn nhà nước tại Sabeco trị giá 5 tỷ USD vào tháng 12/2017. Về mặt nào đó tiền gửi kho bạc dồi dào của các ngân hàng này cũng góp phần hỗ trợ tích cực cho thanh khoản của các ngân hàng trong ngắn hạn.

Một điểm đáng chú ý nữa là lượng tiền gửi kho bạc sẽ tác động đến thị trường trái phiếu khi tỷ lệ giao dịch mua bán lại (repos) và tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đều tăng mạnh, qua đó dẫn đến xu hướng lãi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam liên tục giảm. Đơn cử là lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm đã giảm xuống còn 4,2%/năm, thu hẹp khoảng cách giữa lợi suất trái phiếu của Việt Nam và Hoa Kỳ.

Đặc biệt, trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội mới đây, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ còn cho biết, đó còn là sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Thống đốc NHNN và Bộ trưởng Bộ Tài chính đã cùng nhau giải quyết vấn đề trên nền tảng của tài chính và tiền tệ, có chuyện trung hòa lượng tiền để tránh lạm phát.

“Vừa rồi chúng ta bán Sabeco được 110.000 tỷ đồng tương ứng 5 tỷ USD. Dòng vốn nước ngoài vào còn nhiều, do đó tôi đã trực tiếp trao đổi với các đồng chí lãnh đạo các bộ này để điều hòa lượng tiền của ngân sách trên Kho bạc Nhà nước”, Phó Thủ tướng cho biết.

Cho biết số dư tài khoản của ngân sách và kho bạc trên hệ thống NHNN chỉ có khoảng 50 tỷ nhưng đã tăng lên 90 tỷ và gần đây nhất đã tăng lên được 150.000 tỷ có lẻ, Phó Thủ tướng nhấn mạnh đây cũng chính là động tác trung hòa để không cần phải hút tiền về, đảm bảo cho thị trường tiền tệ và tài khóa lành mạnh, tránh được lạm phát.

Đó có thể là những mặt tích cực của tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng. Tuy nhiên, cần lưu ý nguồn vốn này luôn biến động. Những tháng đầu năm, do giải ngân đầu tư công khá chậm, nên trong chừng mực nào đó các ngân hàng có thể “tranh thủ” được nguồn vốn này. Tuy nhiên, theo quy luật, giải ngân vốn đầu tư công sẽ tăng nhanh trong những tháng cuối năm, nên các ngân hàng cũng cần hết sức lưu tâm để không rơi vào trạng thái bị động.

Hơn thế, về lâu dài mọi chính sách liên quan đến tiền gửi kho bạc chung quy cũng nhằm mục đích quản lý vốn ngân sách nhà nước một cách hiệu quả nhất chứ không phải là để gửi vào ngân hàng. Bởi vậy, các ngân hàng càng không thể quá ỉ lại vào nguồn vốn này.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.300 23.390 26.565 26.882 29.925 30.405 200,95 207,84
BIDV 23.300 23.390 26.562 26.887 29.928 30.401 204,69 208,19
VietinBank 23.296 23.391 26.493 26.871 29.873 30.433 205,08 208,48
Agribank 23.295 23.390 26.540 26.885 29.942 30.390 204,75 208,06
Eximbank 23.290 23.390 26.542 26.897 30.023 30.424 205,49 208,24
ACB 23.310 23.390 26.553 26.895 30.118 30.429 205,94 208,59
Sacombank 23.307 23.399 26.613 26.967 30.126 30.481 205,72 208,83
Techcombank 23.280 23.390 26.309 27.032 29.708 30.545 204,05 209,36
LienVietPostBank 23.290 23.390 26.586 27.046 30.273 30.694 205,65 209,41
DongA Bank 23.310 23.390 26.600 26.900 30.060 30.420 204,40 208,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.650
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.630
Vàng SJC 5c
36.490
36.650
Vàng nhẫn 9999
35.110
35.3510
Vàng nữ trang 9999
34.660
35.460