09:18 | 28/12/2018

Tiếp tục bố trí nguồn lực để hỗ trợ người nghèo

Để đảm bảo có đủ nguồn vốn thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến việc huy động và bố trí nguồn lực tài chính cho NHCSXH...

Chuyển tải kịp thời nguồn vốn chính sách đến với người nghèo
Hành động thiết thực, đóng góp to lớn hơn nữa cho công cuộc giảm nghèo bền vững

Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ cho biết những năm qua, mặc dù ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn nhưng Quốc hội, Chính phủ đã luôn quan tâm dành nguồn lực để cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác với mức giao tăng trưởng dư nợ bình quân cho NHCSXH là 10%/năm; ưu tiên cấp, bố trí nguồn vốn cấp bổ sung vốn điều lệ và vốn cấp các chương trình tín dụng chính sách cho NHCSXH;

Chỉ đạo chính quyền địa phương các cấp tiếp tục bố trí nguồn vốn để cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn nhằm thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.

Tín dụng chính sách góp phần quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo

Từ các chương trình tín dụng nhận bàn giao, gồm: chương trình hộ nghèo, học sinh sinh viên và giải quyết việc làm, đến nay NHCSXH đã và đang triển khai thực hiện hơn 20 chương trình tín dụng chính sách và một số chương trình, dự án do các địa phương, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước ủy thác cho NHCSXH thực hiện như chương trình tín dụng hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo; nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn; hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn, hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở...

Tính đến hết quý III/2018, tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đạt 184.727 tỷ đồng, gấp gần 26 lần so với thời điểm thành lập. Nguồn vốn tín dụng chính sách từ NHCSXH đã hỗ trợ cho hơn 34 triệu lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách, giúp 4,5 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; tạo việc làm cho gần 3,7 triệu lao động; hỗ trợ cho hơn 3,6 triệu lượt học sinh, sinh viên được vay vốn đi học; xây dựng hơn 11 triệu công trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn; hỗ trợ xây dựng gần 690 nghìn căn nhà. Qua đó có thể thấy các chương trình tín dụng chính sách do NHCSXH thực hiện có độ bao phủ lớn, rộng khắp theo địa bàn và phân nhóm đối tượng.

Ngoài ra, một hộ có thể được vay nhiều chương trình khác nhau, do đó có thể tiếp cận được với nguồn vốn tương đối lớn. Ví dụ như: gia đình thuộc diện hộ nghèo có thể thuộc đối tượng thụ hưởng của 14 chương trình; đối tượng là hộ gia đình không thuộc diện hộ nghèo nhưng ở vùng khó khăn có thể thuộc đối tượng thụ hưởng của 11 chương trình tín dụng.

Về bố trí nguồn vốn cho NHCSXH để cho vay, Phó Thủ tướng cho biết, tính đến hết quý III/2018, tổng nguồn vốn tín dụng chính sách đạt 195.970 tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm 2017. Trong đó: nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước chiếm 15,94% tổng nguồn vốn của NHCSXH; nguồn vốn từ việc duy trì số dư tiền gửi 2% của các tổ chức tín dụng nhà nước tại NHCSXH, vay NHNN Việt Nam và phát hành trái phiếu NHCSXH được Chính phủ bảo lãnh chiếm 60,8% (chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHCSXH); nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác sang NHCSXH đạt 11.364 tỷ đồng, chiếm 5,8%.

Kể từ khi có Chỉ thị 40-CT/TW ngày 22/11/2014 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách đến nay, nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác sang NHCSXH đã tăng 7.556 tỷ đồng.

Để đảm bảo có đủ nguồn vốn thực hiện các chương trình tín dụng chính sách, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến việc huy động và bố trí nguồn lực tài chính cho NHCSXH. Tính đến hết quý III/2018, đã bố trí ngân sách Trung ương cấp vốn điều lệ (13.893 tỷ đồng); cấp vốn thực hiện các chương trình tín dụng chính sách (17.346 tỷ đồng);

Cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý (22.447 tỷ đồng); Có cơ chế cho phép phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh (tổng khối lượng huy động là 91.008 tỷ đồng); Quy định các tổ chức tín dụng Nhà nước duy trì số dư tiền gửi 2% hàng năm (64.301 tỷ đồng); Tạo điều kiện cho NHCSXH được vay một số nguồn vốn ưu đãi…

Riêng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020, ngân sách Nhà nước đã bố trí cho NHCSXH  là 21.978 tỷ đồng. Trong đó cấp vốn điều lệ 7.575 tỷ đồng; cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý là 13.290 tỷ đồng; cấp vốn cho vay chương trình nhà ở xã hội theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ là 1.062 tỷ đồng. Đây là nỗ lực rất lớn của Nhà nước trong bối cảnh ngân sách Nhà nước còn gặp nhiều khó khăn như hiện nay.

Về hạn mức cho vay, thời gian qua, căn cứ vào khả năng cân đối, bố trí vốn của ngân sách Nhà nước cũng như khả năng huy động vốn của NHCSXH, các chương trình tín dụng chính sách qua NHCSXH đã được Nhà nước xem xét, điều chỉnh cả về mức vốn vay và lãi suất để phù hợp với từng nhóm đối tượng, tình hình thực tế như: điều chỉnh mức cho vay Chương trình tín dụng học sinh, sinh viên từ mức ban đầu là 800.000 đồng/tháng, qua 6 lần điều chỉnh hiện nay mức cho vay là 1.500.000 đồng/tháng; điều chỉnh mức cho vay Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn từ mức ban đầu là 4 triệu đồng/hộ, qua 2 lần điều chỉnh hiện nay mức cho vay là 10 triệu đồng/hộ...

Trong giai đoạn từ năm 2013 đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã 3 lần ban hành Quyết định giảm lãi suất cho vay một số chương trình tín dụng tại NHCSXH. Trong đó, mới nhất là Quyết định số 750/QĐ-TTg ngày 01/6/2015 giảm lãi suất cho vay hộ nghèo, giải quyết việc làm, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài từ 0,6%/tháng (7,2%/năm) xuống còn 0,55%/tháng (6,6%/năm); hộ cận nghèo từ 0,72%/tháng (8,64%/năm) xuống còn 0,66%/tháng (7,92%/năm)...

Mặc dù vậy Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cũng thừa nhận, qua tiếp nhận ý kiến của các Đoàn công tác, kiến nghị của các hộ vay, cử tri các địa phương, đại biểu Quốc hội trên cả nước thì một số chương trình tín dụng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu vay của người dân. Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, NHCSXH nghiên cứu, tham mưu đề xuất với Chính phủ việc nâng mức cho vay một số chương trình tín dụng vào thời điểm phù hợp.

Cùng với sự tham gia tích cực của hệ thống chính trị, tinh thần trách nhiệm, chuyên nghiệp, sâu sát cơ sở của đội ngũ cán bộ, nhân viên, hoạt động của hệ thống NHCSXH thời gian qua rất hiệu quả; tín dụng ngân hàng chính sách đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân, làm thay đổi bộ mặt của nông thôn, trong đó có các vùng khó khăn. Các đối tượng vay đã thể hiện trách nhiệm cao đối với nguồn vốn được vay, với cộng đồng, bảo toàn và phát triển vốn của NHCSXH.

Đặc biệt, đã góp phần quan trọng nhằm hạn chế nạn tín dụng đen đã và đang hoành hành ở nông thôn hiện nay. Tuy nhiên, có một thực tế là nguồn vốn của NHCSXH thời gian qua còn hạn chế, hạn mức cho vay chưa đáp ứng được nhu cầu. Người dân đang rất mong muốn Chính phủ xem xét, bố trí nguồn vốn lớn hơn cho NHCSXH để nâng mức vốn vay đối với các hộ nghèo, đối tượng chính sách, người dân sống ở vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số... nhằm phát huy đầy đủ tiềm năng, hiệu quả của chương trình tín dụng rất có ý nghĩa này, góp phần thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.240 26.976 29.547 30.021 209,79 220,20
BIDV 23.155 23.245 26.226 26.599 29.558 30.026 210,47 214,10
VietinBank 23.143 23.243 26.180 26.970 29.496 30.056 210,46 214,21
Agribank 23.150 23.240 26.216 26.592 29.566 30.023 210,45 214,10
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.157 23.259 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.370
36.770
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620