16:59 | 20/09/2019

Tìm hướng đi cho ngành chế biến nông, thủy sản

Hoạt động chế biến thủy sản tuy có bước tăng trưởng mạnh, có thị trường tiêu thụ rộng lớn nhưng cũng đối diện một số thách thức, bất lợi…

Đó là một trong những thông tin được trao đổi tại hội thảo “Chính sách nâng cao chất lượng hàng nông, thủy sản và thực phẩm chế biến” do Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức ngày 20/9 nhằm tìm ra những giải pháp chính sách và một số kiến nghị cần thiết để duy trì, phát triển ngành chế biến nông, thủy sản.

Nếu xét về tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến trong chuỗi giá trị, khâu chế biến hiện chỉ sử dụng 5-10% sản lượng nông sản sản xuất ra. Khâu chế biến nông sản tại Việt Nam chủ yếu vẫn thủ công, ít nhà máy hiện đại; chưa có nhiều mô hình gắn kết giữa chế biến với vùng sản xuất.

Các sản phẩm chế biến cũng chưa đa dạng, chủ yếu là các sản phẩm đơn giản như bún, miến, rau quả sấy khô, nước ép… Đầu tư cho công nghiệp chế biến chưa tương xứng với tốc độ phát triển của nông nghiệp.

Cần có sự định hướng, nghiên cứu đối với những mặt hàng nông, hải sản có thế mạnh

Hệ số đổi mới thiết bị trong những năm qua mới chỉ ở mức 7%/năm (bằng 1/2 đến 1/3 mức tối thiểu của các nước khác); điều khoảng 5%, chè 5%, cá tra 10% và cao nhất là tôm, khoảng 40%. Trình độ công nghệ chế biến nhiều mặt hàng nông sản trên 90% là mức độ trung bình và lạc hậu.

Phát biểu tại Hội thảo, bà Lê Thị Bích Thu, chuyên gia của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) thông tin, hoạt động chế biến nông, thủy sản đang sử dụng khoảng 1,6 triệu lao động, với thu nhập ổn định, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, bảo đảm an sinh, đời sống xã hội.

Tuy nhiên, trang thiết bị chuyên dùng cho ngành này vẫn lạc hậu, vì chủ yếu là thiết bị cũ hoặc chỉ đạt cấp độ trung bình của khu vực. Tỷ lệ và tần suất được nâng cấp về công nghệ cũng chỉ bằng 30-50% so với yêu yầu hoặc so với mức độ của các nước khác.

Trong khi đó, hoạt động chế biến thủy sản tuy có bước tăng trưởng mạnh, có thị trường tiêu thụ rộng lớn nhưng cũng đối diện một số thách thức, bất lợi gồm: chất lượng không đồng đều, chưa bảo đảm yêu cầu an toàn thực phẩm và tiêu chí vệ sinh theo yêu cầu của nhà nhập khẩu...

Ngoài ra, tình trạng manh mún, hạn chế về trình độ quản trị doanh nghiệp và tính liên kết lỏng lẻo vẫn là những yếu tố bất cập, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành này. Nhìn chung, giá trị gia tăng của ngành chế biến còn thấp, chậm được cải thiện. Ngoài ra, Việt Nam còn là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất về biến đổi khí hậu, gây khó khăn cho mục tiêu tăng trưởng bền vững nói chung...

Theo bà Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó viện trưởng CIEM, thực tế cho thấy nếu không tăng tốc mạnh mẽ tỷ lệ hàng đã qua chế biến, phục vụ xuất khẩu thì đó sẽ là thiệt thòi lớn cho doanh nghiệp và nhà nông. Vấn đề đặt ra là tìm hiểu kỹ, phát hiện nguyên nhân làm ảnh hưởng đến toàn ngành, là ở chính sách hay quá trình triển khai thực hiện chính sách để tìm cách tháo gỡ...

“Đây là bài toán chuyên sâu, cần sự vào cuộc, phân tích của các chuyên gia cũng như với từng đơn vị quản lý hoặc nghiên cứu. Trong đó, cần bám sát yêu cầu tổng kết việc thực hiện kế hoạch về tái cơ cấu và phát triển ngành nông nghiệp của Thủ tướng trong 5 năm vừa qua, đánh giá tình hình và có giải pháp thỏa đáng”, bà Nguyễn Thị Tuệ Anh chỉ rõ.

Tại Hội thảo, nhiều chuyên gia cũng đưa ra một số ý kiến thiết thực như: tăng cường năng lực nghiên cứu và dự báo thị trường; đẩy mạnh tiếp thị và đa dạng hóa thị trường; phát triển và bảo vệ vùng nguyên liệu; khai thác hợp lý và có hiệu quả; tập trung đầu tư cho thiết bị/dây chuyền sản xuất tại các cơ sở chế biến mới theo hướng hiện đại; tăng cường mối liên kết giữa khai thác và chế biến...

Ngoài ra, các ngành chức năng cần có nghiên cứu sâu, định hướng cụ thể, lâu dài đối với những mặt hàng có thế mạnh như lúa gạo, cà phê, chè, hạt tiêu, thủy sản.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.335 26.205 28.880 29.373 202,12 215,27
BIDV 23.140 23.260 25.413 26.164 28.948 29.506 208,34 215,15
VietinBank 23.125 23.255 25.353 26.218 28.841 29.481 211,21 217,21
Agribank 23.145 23.250 25.360 25.851 28.923 29.401 211,55 215,40
Eximbank 23.140 23.250 25.371 25.721 29.002 29.403 212,52 215,46
ACB 23.130 23.250 25.388 25.737 29.078 29.405 212,49 215,42
Sacombank 23.100 23.260 25.378 25.833 29.020 29.423 211,76 216,32
Techcombank 23.131 23.271 25.150 26.145 28.685 29.595 211,04 218,21
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.300 25.775 29.019 29.449 211,98 215,89
DongA Bank 23.160 23.250 25.400 25.720 29.000 29.390 209,10 214,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.420
41.710
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.420
41.690
Vàng SJC 5c
41.420
41.710
Vàng nhẫn 9999
41.400
41.850
Vàng nữ trang 9999
40.890
41.690