13:17 | 13/03/2018

Tín dụng tăng chậm nhưng bền vững hơn, chất lượng tiếp tục được cải thiện

Số liệu của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho thấy, mặc dù tín dụng tăng trưởng thấp hơn so với cùng kỳ năm 2017, song xét kỹ cơ cấu có thể thấy chất lượng tín dụng tiếp tục được cải thiện rõ rệt.

Hà Nội: Tín dụng tăng 1,2% trong 2 tháng đầu năm 2018
Năm 2017 tín dụng tăng 18,17%; dự kiến năm 2018 tín dụng tăng 17%
Kỳ vọng gì ở tăng trưởng tín dụng 2018
Thanh hoản của hệ thống vẫn trọng trạng thái tích cực

Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho biết, tháng 1/2018, tổng tín dụng (bao gồm cả cho vay  khách hàng và đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp) tăng khoảng 0,9% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ năm 2017 tăng 1,6%, năm 2016 tăng 0,8%). Tháng 2/2018, tín dụng ước tăng khoảng 1% với với cuối năm 2017.

Nguyên nhân khiến tín dụng tăng chậm trong 2 tháng đầu năm được khá nhiều chuyên gia thống nhất nhận định là do đó là tháng cận Tết và tháng Tết nên nhu cầu tín dụng không lớn.

Tuy nhiên, chất lượng tín dụng tiếp tục được cải thiện tích cực. Thể hiện qua tỷ trọng tín dụng trung dài hạn tiếp tục giảm. Theo đó, tín dụng trung dài hạn hiện chỉ chiếm 53,0% tổng tín dụng (cùng kỳ tháng 1/2017 chiếm 55,2%). Tín dụng ngắn hạn chiếm 47,0% tổng tín dụng (cùng kỳ tháng 1/2017 chiếm 44,9%).

Bên cạnh đó, tỷ trọng tín dụng bằng ngoại tệ giảm. Tín dụng bằng VND hiện chỉ chiếm 92,0% tổng tín dụng (cùng kỳ tháng 1/2017 chiếm 91,6%); trong khi tín dụng ngoại tệ chiếm 8,0% tổng tín dụng (cùng kỳ tháng 1/2017 chiếm 8,4%).

Đặc biệt, dòng tín dụng vẫn được tập trung chủ yếu vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN. 

Theo số liệu mới nhất từ Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, đến 31/12/2017 dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 1.310.832 tỷ, tăng 25,5% so với 31/12/2016 (cùng kỳ năm 2016 tăng 18%). Đến hết tháng 1/2018 dư nợ đối với lĩnh vực này tăng 1,5% so với cuối năm 2017.

Dư nợ tín dụng đối với ngành công nghiệp và xây dựng đến 31/12/2017 đạt 2.092.979 tỷ đồng, tăng 22,38% so với cuối năm 2016, chiếm 32,15% dư nợ tín dụng đối với toàn nền kinh tế. Trong đó: Dư nợ tín dụng đối với ngành công nghiệp đến hết tháng 12/2017 đạt 1.454.280 tỷ đồng tăng 20,95% so với cuối năm 2016. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao nhất 27,78%; Dư nợ tín dụng đối với ngành xây dựng đạt 638.699 tỷ đồng, tăng 25,75% so với cuối năm 2016.

Tính dư nợ tín dụng đến 31/1/2018 đối với ngành công nghiệp và xây dựng đạt 2.009.883 tỷ đồng, tăng 1,86% so với thời điểm 31/12/2017, chiếm khoảng 32% dư nợ tín dụng đối với toàn nền kinh tế (Số liệu ước tính thời điểm 31/1/2018 không bao gồm đầu tư vào trái phiếu VAMC, cho vay và đầu tư theo hợp đồng nhận ủy thác).

Cũng tính đến 31/1/2018, tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách đạt 170.999 tỷ đồng, giảm 791 tỷ đồng (giảm 0,46%) so với năm 2017, với trên 8,3 triệu khách hàng còn dư nợ.

Về tình hình huy động vốn, Ủy ban cho biết, vốn huy động từ tổ chức kinh tế và cá nhân tăng ngay từ tháng 1/2018. Cụ thể vốn huy động tăng 0,5% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ tháng 1/năm 2016 và năm 2017 đều giảm lần lượt là 0,8% và 1,3%).

Trong đó, vốn huy động bằng VND tăng 0,6%, chiếm 90,3% tổng vốn huy động; vốn huy động bằng ngoại tệ giảm 0,3%, chiếm 9,7% tổng vốn huy động.

Nhờ đó, thanh khoản của hệ thống ngân hàng dồi dào hơn. Đặc biệt, thanh khoản toàn hệ thống vẫn được hỗ trợ rất lớn từ việc NHNN mua lượng lớn ngoại tệ và cung ứng ròng khoảng 70 nghìn tỷ đồng trong 2 tháng đầu năm 2018.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.240 23.330 26.251 26.723 29.066 29.532 199,09 206,12
BIDV 23.240 23.330 26.237 26.603 29.105 29.565 202,71 206,19
VietinBank 23.228 23.328 26.199 26.704 29.015 29.575 202,68 206,43
Agribank 23.245 23.330 26.266 26.619 29.078 29.518 203,14 206,63
Eximbank 23.220 23.320 26.241 26.592 29.180 29.571 203,54 206,26
ACB 23.240 23.320 26.244 26.582 29.247 29.550 203,60 206,22
Sacombank 23.244 23.336 26.287 26.651 29.253 29.608 203,63 206,68
Techcombank 23.215 23.330 25.994 26.715 28.856 29.684 202,19 207,45
LienVietPostBank 23.230 23.330 26.187 26.645 29.234 29.645 202,91 206,59
DongA Bank 23.275 23.330 26.270 26.590 29.390 29.570 202,20 206,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.230
36.390
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.230
36.370
Vàng SJC 5c
36.230
36.390
Vàng nhẫn 9999
35.230
35.630
Vàng nữ trang 9999
34.888
35.580