14:00 | 11/07/2018

Trái phiếu tăng cường an toàn vốn

Nguồn vốn trái phiếu nhằm hỗ trợ những thiếu hụt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu chỉ là giải pháp tạm thời bởi về bản chất, đây vẫn là những món nợ. Vì vậy, về lâu dài các ngân hàng phải tăng vốn chủ sở hữu thực chất mới có thể phát triển bền vững.

Bộ Tài chính và NHNN sẽ thống nhất về khối lượng phát hành tín phiếu
Hơn 16,9 nghìn tỷ đồng TPCP huy động trong tháng 6

Thống kê từ đầu năm đến nay, tổng giá trị trái phiếu của các NHTM phát hành lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng, trong đó  HDBank 6.000 tỷ đồng, VietinBank 4.000 tỷ đồng, VIB 2.800 tỷ đồng, Techcombank 2.000 tỷ đồng…

Ảnh minh họa

Những người am hiểu trong lĩnh vực ngân hàng cho rằng, việc phát hành trái phiếu là một biện pháp khá hiệu quả để các ngân hàng tăng được vốn cấp 2 và vốn tự có nhằm đáp ứng các quy định theo chuẩn Basel II. Bởi việc phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn sẽ dẫn đến nguy cơ pha loãng cổ phiếu, trong khi với thị trường chứng khoán đang biến động mạnh như hiện nay, việc phát hành cổ phiếu cũng không hề dễ dàng.

Trong khi để tăng vốn điều lệ từ chính các cổ đông hiện hữu cũng đang vấp phải trở ngại lớn khi mà nhiều cổ đông lớn của các ngân hàng đang phải thực hiện thoái vốn để đảm bảo theo đúng quy định, nói gì đến việc tăng vốn. Trong khi đó, trái phiếu là một trong những loại giấy tờ có giá giúp các ngân hàng có thể gọi vốn trong thời gian ngắn, với chi phí thấp; qua đó để bổ sung nguồn vốn cấp 2 để cải thiện hệ số CAR của ngân hàng, đáp ứng các quy định theo chuẩn Basel II.

Thực tế, mỗi một đợt phát hành trái phiếu các nhà phát hành thường chào mời cho tất cả các cá nhân và tổ chức kinh tế và sẽ có một công ty chứng khoán đứng ra lo việc thanh toán, chuyển nhượng theo quy định. Với lãi suất bình quân kỳ hạn 3 năm của những loại trái phiếu này hiện đang dao động từ mức 6,9%/năm đến 7,2%/năm.

Với phương thức này, các ngân hàng chẳng những nhanh chóng bổ sung nguồn vốn cấp 2, mà còn kéo tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn xuống 45% theo đúng quy định khi mà kỳ hạn trái phiếu thường khá dài. Không những vậy, các ngân hàng có thể rộng tay sử dụng nguồn trái phiếu lấp đầy vào những khoản đã cho vay trung dài hạn trước đó để đảm bảo đầy đủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định.

Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn đang phụ thuộc rất lớn từ vốn ngân hàng. Các doanh nghiệp đều mong muốn tiếp cận được vốn dài hạn với chi phí rẻ hơn, tuy nhiên phía ngân hàng lại bị hạn chế bởi quy định về nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Điều này đặt ra cho các ngân hàng bài toán phải tìm kiếm nguồn vốn huy động dài hơn để phục vụ nhu cầu cho vay trong đó có phương án phát hành trái phiếu.

Thống kê của NHNN, tính đến đầu năm 2018 các NHTM có vốn nhà nước chi phối có tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn Basel II ở mức 8%. Những ngân hàng như Vietcombank, BIDV nếu không tăng vốn điều lệ sẽ không thể tăng trưởng tín dụng thêm trong thời gian tới sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh. Ở khối ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, hiệu quả kinh doanh tốt nhưng do áp lực ngân sách nên không thể thuyết phục cổ đông nhà nước cho giữ lại một phần lợi nhuận để tăng vốn.

Trong khi đó, nhiều NHTMCP gần đây đã cạn hạn mức tăng trưởng tín dụng cả năm NHNN phân bổ. Chẳng hạn, OCB trong 6 tháng đầu năm tín dụng đã tăng trưởng 15% so với năm trước, hiện ngân hàng này đã đệ đơn lên nhà điều hành xin nới hạn mức tăng trưởng tín dụng trong năm 2018. Một số ngân hàng khác cũng đang chờ nới hạn mức tăng trưởng tín dụng nhưng các chỉ số an toàn vốn tối thiểu lại rất thấp. Theo đó, cần lấp đầy những lỗ hổng về các tỷ lệ an toàn vốn tối thiếu mới có thể được thỏa mãn nhu cầu nới hạn mức tăng trưởng tín dụng và các chỉ tiêu hoạt động.

Thực chất, nguồn vốn trái phiếu nhằm hỗ trợ những thiếu hụt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu chỉ là giải pháp tạm thời bởi về bản chất, đây vẫn là những món nợ. Vì vậy, về lâu dài các ngân hàng phải tăng vốn chủ sở hữu thực chất mới có thể phát triển bền vững.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.265 23.355 26.184 26.655 29.920 30.399 199,16 206,20
BIDV 23.270 23.360 26.176 26.546 29.947 30.413 202,75 206,24
VietinBank 23.259 23.359 26.170 26.595 29.930 30.490 202,97 206,72
Agribank 23.260 23.350 26.137 26.479 29.989 30.437 202,26 205,73
Eximbank 23.250 23.360 26.193 26.544 30.064 30.465 203,74 206,47
ACB 23.270 23.350 26.218 26.556 30.164 30.475 203,85 206,47
Sacombank 23.273 23.365 26.226 26.588 30.136 30.500 203,65 206,72
Techcombank 23.245 23.360 25.928 26.649 29.716 30.560 202,30 207,59
LienVietPostBank 23.250 23.350 26.116 26.569 30.082 30.498 203,12 206,77
DongA Bank 23.280 23.360 26.240 26.540 30.090 30.460 202,50 206,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.390
36.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.390
36.530
Vàng SJC 5c
36.390
36.550
Vàng nhẫn 9999
34.610
35.010
Vàng nữ trang 9999
34.260
34.960