09:03 | 19/06/2019

Trung Quốc có nhiều khoản cho vay bị che giấu

Việc minh bạch các khoản nợ là cần thiết cho sự phát triển kinh tế, khi các khoản nợ bị che giấu, nó sẽ trở thành vấn đề đối với tất cả chứ không phải riêng gì của WB hay IMF.

Nhiều khoản nợ “bí mật”

Gần đây các chuyên gia cảnh báo rằng các khoản tiền mà Trung Quốc cho các quốc gia khác vay dưới hình thức “bí mật” đã cao hơn rất nhiều so với con số theo dõi. Thực tế đó sẽ dẫn đến nhiều khoản nợ bị che giấu và các rủi ro liên quan sẽ ngày càng tăng. Theo giáo sư Carmen Reinhart của trường Kennedy tại Đại học Harvard thì sự không minh bạch này sẽ ảnh hưởng tới các nhà đầu tư trái phiếu hoặc ảnh hưởng tới các tổ chức tài chính quốc tế.

Nhiều quốc gia tăng phát sinh chi phí khi khoản nợ của Trung Quốc bị che giấu

Giáo sư Carmen Reinhart cho rằng vai trò chủ nợ toàn cầu của Trung Quốc gia tăng đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều khoản vay mượn không được báo cáo cho IMF hoặc WB. Điều đó đã dẫn đến sự đánh giá sai lệch về tình trạng nợ nần của các quốc gia; cản trở IMF hoặc WB trong việc phân tích tính bền vững của nợ, bao gồm việc phân tích gánh nặng nợ quốc gia, đưa ra những khuyến nghị phù hợp trong chiến lược vay nợ để có thể giới hạn được rủi ro của tình trạng nợ nần. Ngoài ra, đối với các nhà đầu tư, các nguồn thông tin bị giới hạn sẽ cản trở họ ra quyết định đầu tư vào các trái phiếu được phát hành bởi các quốc gia nếu như họ không biết chính xác mức vay nợ thực tế của quốc gia đó là như thế nào.

Ông cũng cảnh báo, từ năm 2011 đã có rất nhiều khoản vay được cung cấp bởi các chủ nợ Trung Quốc cần phải được cơ cấu lại hoặc thỏa thuận lại. Đó là các khoản nợ dành cho Sri Lanka, Ukraina, Venezuela, Ecuador, Bangladesh và Cuba. Trung Quốc không phải là thành viên và cũng không hứng thú trở thành thành viên của Câu lạc bộ nợ Paris - một nhóm các quốc gia là chủ nợ với mục đích hỗ trợ các nước khác. Một ví dụ về những khoản vay không rõ ràng là trường hợp của Venezuela - các khoản vay đã được quy đổi bằng dầu. Ông David Malpass - Chủ tịch hiện tại của WB chia sẻ, thực tế này đã che giấu số lượng tiền thanh toán thực tế.

Ông Kaho Yu - chuyên gia cao cấp phân tích khu vực châu Á của Verisk Maplecroft cũng cho rằng, mặc dù các khoản nợ của Trung Quốc có thể giúp các quốc gia phát triển nhưng nếu không được khai báo sẽ có thể dẫn đến sự suy giảm kinh tế của chính các quốc gia vay vốn. Trung Quốc có thể đảm bảo cho các nước đang phát triển rằng chi phí của các khoản vay sẽ được bù đắp bởi nguồn thu của các dự án trong dài hạn khi chúng đi vào hoạt động, nhưng không có một sự bảo lãnh nào được đưa ra.

Thiếu minh bạch

Tại diễn đàn “Một vành đai, một con đường” được tổ chức tại Bắc Kinh lần thứ 2 vào tháng trước, Thống đốc NHTW Trung Quốc - Yi Gang  cho biết, hiện các tổ chức tài chính của Trung Quốc đã cung cấp hơn 440 tỷ USD để tài trợ cho sáng kiến này. Rất nhiều chính sách cho vay trong khuôn khổ sáng kiến này đã được thực hiện thông qua 2 ngân hàng chính sách là Ngân hàng Phát triển Trung Quốc và Ngân hàng Xuất - Nhập khẩu Trung Quốc. Trong đó Ngân hàng Xuất - Nhập khẩu Trung Quốc đã cung cấp 149 tỷ USD cho hơn 1.800 dự án của sáng kiến và  Ngân hàng Phát triển Trung Quốc đã cung cấp hơn 190 tỷ USD cho hơn 600 dự án kể từ năm 2013.

Theo Kaho Yu, nếu có sự thiếu minh bạch của các khoản vay cũng có nghĩa là tồn tại sự không chắc chắn của các dự án. Một ví dụ điển hình trong trường hợp này đó là Sri Lanka - đã phải bàn giao một cảng biển chiến lược cho Bắc Kinh vào năm 2017 sau khi không thể trả được các khoản nợ cho các công ty của Trung Quốc. Khi các quốc gia muốn vay tiền của Bắc Kinh nhưng buộc phải ký cam kết thực hiện những vấn đề thuộc về lãnh thổ quốc gia, hoặc phải nhượng bộ mạnh mẽ nếu họ không đáp ứng được các nghĩa vụ nợ được xem là hiện tượng  “ngoại giao bẫy nợ” mặc dù chính quyền của Trung Quốc đã phủ nhận điều này.

Trước thực tế đó, IMF và WB đều yêu cầu cần phải minh bạch hơn nữa khối lượng và kỳ hạn các khoản vay vào các cuộc họp hàng năm. Những bên vay vốn cần phải có dữ liệu nợ toàn diện và kịp thời để đưa ra các quyết định sáng suốt, đồng thời những người cho vay cũng cần phải quản lý rủi ro vay mượn hiệu quả hơn. Điều đó sẽ giúp cho cả bên vay và cho vay giảm thiểu được chi phí vay mượn.

Hơn nữa, các tổ chức quốc tế cũng cho rằng, minh bạch nợ sẽ giúp cho người dân quản lý được trách nhiệm của Chính phủ. Việc minh bạch các khoản nợ là cần thiết cho sự phát triển kinh tế, khi các khoản nợ bị che giấu, nó sẽ trở thành vấn đề đối với tất cả chứ không phải riêng gì của WB hay IMF.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.260 25.903 26.761 28.708 29.168 207,73 215,91
BIDV 23.140 23.260 25.886 26.631 28.688 29.173 212,15 217,57
VietinBank 23.130 23.260 25.887 26.682 28.637 29.277 212,36 218,86
Agribank 23.145 23.250 25.890 26.286 28.710 29.185 212,32 216,19
Eximbank 23.140 23.250 25.916 26.274 28.806 29.204 213,25 216,20
ACB 23.130 23.250 25.917 26.274 28.875 29.199 213,18 216,12
Sacombank 23.100 23.250 25.912 26.317 28.826 29.228 212,26 216,81
Techcombank 23.120 23.260 25.656 26.516 28.457 29.326 211,63 218,93
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.849 26.328 28.830 29.260 212,79 216,73
DongA Bank 23.160 23.240 25.940 26.260 28.810 29.180 209,90 215,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.000
39.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.000
39.200
Vàng SJC 5c
39.000
39.220
Vàng nhẫn 9999
38.850
39.300
Vàng nữ trang 9999
38.500
39.300