09:45 | 13/10/2017

USD hướng tới tuần giảm giá đầu tiên, song vẫn chờ số liệu lạm phát ở Mỹ

Đồng USD chỉ biến động nhẹ trong phiên giao dịch sáng nay (13/10) khi các nhà đầu tư chờ đợi số liệu lạm phát của Mỹ để đánh giá khả năng tăng lãi suất của Fed. Tuy nhiên đồng bạc xanh có thể ghi nhận tuần giảm giá đầu tiên sau 4 tuần tăng liên tục.

Bất đồng về lạm phát, song Fed vẫn muốn tăng tiếp lãi suất trong năm nay
Nhiều quan chức Fed tin tưởng tăng lãi suất do thất nghiệp giảm mạnh
Chủ tịch ECB cảnh báo về động thái chính sách vội vã
NHTW Nhật giữ nguyên chính sách kích thích tiền tệ

Theo đó, chỉ số USD, theo dõi đồng bạc xanh so với giỏ của 6 đồng tiền chủ chốt, ổn định ở mức 93,083 điểm, nhưng dang hướng tới tuần giảm giá đầu tiên sau 4 tuần tăng liên tục với giảm khoảng 0,8%.

Đồng bạc xanh đã nhận được một số hỗ trợ sau khi Bộ Lao động Mỹ hôm thứ Năm cho biết chỉ số giá sản xuất (PPI) tại Mỹ tăng 0,4% trong tháng 9 so vwosi tháng trước. Còn với cùng kỳ năm trước, PPI tăng 2,6% - mức tăng lớn nhất kể từ tháng 2/2012.

“PPI cho thấy một số dấu hiệu lạm phát, ít nhất là ở khu vực sản xuất, và tiếp theo chúng ta sẽ có báo cáo về chỉ số giá tiêu dùng (CPI)”, Bill Northey - Giám đốc đầu tư của Ngân hàng Quản lý Wealth ở Mỹ cho biết.

“Có một số dấu hiệu đáng khích lệ cho thấy rằng áp lực lạm phát, nhưng nếu phân tích kỹ các khía cạnh của số liệu, chúng ta phải thừa nhận rằng đây sẽ là chuỗi dữ liệu bị nhiễu”, Northey nói, đề cập đến những ảnh hưởng của bão Harvey và Irma đã tàn phá các thành phố miền nam Hoa Kỳ trong những tuần gần đây.

Mặc dù vậy, số liệu này cũng phần nào củng cố thêm kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất vào tháng 12 tới và qua đó chặn lại đà giảm của đồng USD. Theo công cụ FedWatch của Tập đoàn CME, thị trường tài chính đang đặt cược khoảng 88% cơ hội lãi suất sẽ tăng vào tháng 12 tới.

Được biết, Fed đã tăng lãi suất 4 lần trong chu kỳ thắt chặt lần này, bắt đầu vào cuối năm 2015, và hiện đang dự báo một lần tăng lãi suất nữa trong năm nay và 3 lần tăng vào năm 2018.

Quay trở lại với diễn biến thị trường sáng nay, đồng đôla Singapore giảm 0,2% xuống còn 1,3550 SGD/USD từ mức 1,3514 SGD/USD sau khi Cơ quan quản lý tiền tệ Singapore (MAS) giữ nguyên chính sách tiền tệ vào ngày thứ sáu, mặc dù dự báo tăng trưởng kinh tế 2018 có thể chậm hơn so với năm nay.

Tuy nhiên đồng bạc xanh giảm nhẹ so với đồng JPY của Nhật xuống còn 112,07 JPY/USD và đang hướng tới mức giảm nhẹ 0,3% trong tuần.

Thống đốc NHTW Nhật (BOJ) Haruhiko Kuroda hôm thứ Năm đã nhấn mạnh quyết tâm của BOJ trong việc duy trì chính sách tiền tệ cực kỳ lỏng lẻo của mình, ngay cả khi các đối tác ở Mỹ và châu Âu bắt đầu bình thường hóa chính sách tiền tệ. Theo ông, mặc dù nền kinh tế Nhật Bản đang phát triển vừa phải, lạm phát và tăng lương vẫn còn thấp đáng thất vọng.

“Lạm phát vẫn duy trì ở mức khoảng 0,5%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu của chúng tôi”, Kuroda nói với các phóng viên khi đến với Hội nghị mùa thu thường niên của WB/IMF.

Đồng euro cũng tăng nhẹ lên mức 1,1851 USD, tăng 0,9% trong tuần.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,20
4,20
4,70
5,20
5,40
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,30
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,42
5,42
5,42
6,90
7,10
7,10
7,50
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.675 22.745 27.785 28.122 31.056 31.554 20334 20723
BIDV 22.675 22.745 27.738 28.062 31.049 30.517 20356 20661
VietinBank 22.665 22.745 27.713 28.089 30.996 31.536 203,35 20683
Agribank 22.670 22.745 26.634 27.975 30.015 31.457 202,65 205,89
Eximbank 22.650 22.740 27.687 28.048 31.118 31.523 203,97 20663
ACB 22.670 22.740 27.696 28.044 31.222 31.535 20409 20665
Sacombank 22.670 22.762 27.763 28.120 31.228 31.583 20411 20719
Techcombank 22.665 22.755 27.378 28.258 30.779 31.672 20254 207,90
LienVietPostBank 22.650 22.765 26.634 28.097 31.187 31.602 203,91 20749
DongA Bank 22.680 22.750 27.090 27.400 30.480 30.830 199,80 202,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.710
36.930
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.710
36.910
Vàng SJC 5c
36.710
36.930
Vàng nhẫn 9999
36.560
36.910
Vàng nữ trang 9999
36.160
36.860