11:32 | 17/04/2018

USD ổn định khi “điểm nóng” Syria nhường chỗ cho chính sách thương mại Mỹ

Đồng USD chỉ biến động rất nhẹ trong phiên giao dịch châu Á sáng nay (17/4) khi thị trường chuyển hướng chú ý sang chính sách thương mại của Mỹ và các nhà đầu tư đặt cược rằng các cuộc tấn công của Mỹ vào Syria sẽ không leo thang.

Ông Trump lại đe dọa áp thuế lên 100 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc
Chủ tịch Fed Powell nhấn lại quan điểm tăng dần lãi suất
Fed tăng lãi suất và phát tín hiệu có thể tăng tốc độ thắt chặt

Chỉ số đồng USD, thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với giỏ 6 đồng tiền chính, hiện ổn định quanh mức 89,430 điểm sau khi giảm 0,4% vào thứ Hai, cách không xa mức thấp nhất 2 tuần là 89,355 điểm thiết lập vào tuần trước.

Theo đó, hiện đồng USD tiếp tục giảm nhẹ so với yên Nhật xuống còn 107,06 JPY/USD, trượt xa khỏi mức đỉnh 7 tuần là 107,78 JPY/USD thiết lập trong phiên thứ Sáu tuần trước, khi giới thương nhân đang tỏ ra thận trong đón đợi cuộc gặp giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Thủ tướng Nhật Shinzo Abe vào thứ Ba và thứ Tư.

Theo các nhà phân tích, hiện Tokyo rất muốn tránh bị đẩy vào các cuộc đàm phán về một Hiệp định thương mại tự do song phương nhằm không chỉ vào tiếp cận thị trường mà còn với các chính sách tiền tệ và tỷ giá.

Báo cáo tiền tệ bán niên của Bộ tài chính Mỹ vừa được công bố cuối tuần trước đã giữ nguyên Nhật Bản trong danh sách các quốc gia cần giám sát vì có khả năng thao túng tiền tệ.

Hôm thứ Hai, ông Trump cũng cáo buộc Nga và Trung Quốc đã phá giá đồng tiền của họ, gây ra việc bán đồng USD, ngay cả khi sự sụt giảm của đồng rúp Nga trong tháng này phần nào do lệnh trừng phạt mới của Mỹ đối với Nga, trong khi đồng nhân dân tệ đang tăng mạnh trong những tháng gần đây.

Tuy nhiên “lời bình luận của Trump dường như cho chúng ta biết rằng, trong thâm tâm ông muốn một đồng đô la suy yếu”, một thương gia tại một ngân hàng Mỹ nói.

Các đồng tiền chủ chốt khác cũng chỉ dao động nhẹ. Cụ thể, đồng euro nhích nhẹ lên 1,2385 USD. Đồng tiền chung đã bị mắc kẹt trong một khoảng giao dịch khá hẹp giữa1,22 - 1,25 USD kể từ cuối tháng Giêng.

Do không chắc chắn về thương mại gia tăng, thị trường cho thấy phản ứng ảm đạm hầu hết các tin tức kinh tế khác.

Tại Mỹ, doanh số bán lẻ hồi phục hồi trở lại trong tháng 3 sau 3 tháng giảm liên tiếp vì các hộ gia đình đã đẩy mạnh mua sắm xe cơ giới và các mặt hàng lớn khác.

Trong khi theo số liệu chính thức vừa được công bố sáng nay, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 6,8% trong quý I/2018 so với một năm trước, cao hơn một chút so vời kỳ vọng song không không thay đổi so với quý trước.

“Thị trường đang tập trung nhiều hơn vào vấn đề thương mại và các tiêu đề chính trị hơn là các dữ liệu kinh tế. Những ngày này rất khó để nói trước thị trường sẽ biến động thế nào. Chúng ta phải giải quyết bất cứ vấn đề nào xuất hiện”, Shinichiro Kadota - chiến lược gia ngoại hối cao cấp của Barclays ở Tokyo nói.

Từ tháng trước, Trump đã đưa ra một loạt các đề xuất về thuế quan, một số đã được ban hành, đã làm tăng thêm nỗi lo có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh thương mại gây tổn hại và phá vỡ nền kinh tế toàn cầu.

Với đồng bảng Anh, hiện đang được giao dịch ở mức 1,4342 USD, sau khi tăng lên 1,4355 USD, mức cao nhất kể từ cuộc trưng cầu Brexit vào tháng 6/2016.

Kỳ vọng về việc NHTW Anh có thể tăng lãi suất trong tháng tới và hy vọng Anh có thể đạt được một thỏa thuận Brexit tốt hơn so với trước đây đã đã hỗ trợ đồng bảng Anh.

Trong khi, chính nỗi lo về thương mại đã đầy giá của các đồng tiền hàng hóa suy giảm, dù mức độ cũng là khá nhẹ. Cụ thể, đôla Úc giảm 0,21% xuống còn 0,7765 USD; đôla Canada cũng giảm xuống mức 1,2574 CAD/USD.

Đồng won Hàn Quốc có mức tăng mạnh nhất trong sáng nay khi tăng 0,6% lên mức 1.067,50 KRW/USD.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.255 26.176 26.911 30.095 30.577 203,19 211,64
BIDV 23.155 23.255 26.153 26.529 30.109 30.591 207,04 210,69
VietinBank 23.145 23.255 26.163 26.888 31.084 30.724 207,01 213,51
Agribank 23.150 23.245 26.149 26.524 30.113 30.576 207,03 210,80
Eximbank 23.140 23.240 26.167 26.517 30.198 30.603 207,82 210,60
ACB 23.160 23.240 26.188 26.526 30.316 30.630 207,98 210,66
Sacombank 23.098 23.260 26.176 26.590 30.250 30.655 207,02 211,59
Techcombank 23.120 23.255 25.906 26.651 30.856 31.731 206,32 211,96
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.096 26.552 30.230 30.651 207,23 210,96
DongA Bank 23.170 23.240 26.210 26.520 30.250 30.610 204,50 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.650
36.800
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.650
36.780
Vàng SJC 5c
36.650
36.800
Vàng nhẫn 9999
36.640
37.040
Vàng nữ trang 9999
36.230
36.830