09:41 | 10/05/2018

USD rời đỉnh 4,5 tháng khi lợi suất trái phiếu Mỹ quay đầu giảm

Mặc dù giảm nhẹ trong sáng nay, song hiện đồng USD vẫn đứng ở mức rất cao, giao dịch gần sát mức đỉnh 4,5 tháng nhờ lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ lại một lần nữa vượt qua ngưỡng tâm lý 3% và các nhà đầu tư kỳ vọng số liệu chỉ số giá tiêu dùng sắp được công bố có thể cho thấy sự tăng tốc của lạm phát.

Ông Trump rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, khôi phục các lệnh trừng phạt
Fed giữ nguyên lãi suất, song lạc quan về triển vọng lạm phát
ECB giữ nguyên chính sách kích thích do lo ngại tăng trưởng chậm lại

Theo đó, hiện chỉ số USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt khác đang đứng ở mức 93,11 điểm sau khi chạm mức cao nhất trong 4,5 tháng là 93,42 điểm.

“Kỳ vọng ngày càng tăng về việc tăng lãi suất tại Mỹ đang đẩy đồng USD lên cao hơn”, Ayako Sera - chuyên gia kinh tế thị trường của Ngân hàng Sumitomo Mitsui Trust cho biết, trong đó lưu ý rằng tâm lý nhà đầu tư đang mạnh hơn so với tháng 2 khi họ lo lắng lãi suất cao hơn sẽ tác động tiêu cực đến thị trường cổ phiếu.

“Hiện tại, lạm phát cao hơn và không có các yếu tố rủi ro lớn, ngay cả việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran cũng chỉ có tác động nhỏ. Trong môi trường như vậy, chênh lệch lãi suất sẽ là động lực chính cho đồng đôla”, vị chuyên gia này cho biết.

Số liệu về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 tại Mỹ sẽ được công bố vào 12h30 GMT hôm nay, dự kiến ​​sẽ cho thấy CPI lõi hàng năm sẽ tăng lên 2,2% trong tháng 4, mức cao nhất trong hơn 1 năm, từ mức 2,1% trong tháng 3.

Mặc dù Báo cáo của Bộ Lao động Mỹ được công bố hôm qua cho thấy, chỉ số giá sản xuất tháng 4 của Mỹ hơi yếu hơn dự kiến, tuy nhiên điều này không mấy tác động đến tâm lý thị trường.

Lợi suất trái phiếu Kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ lại một lần nữa tăng lên trên ngưỡng tâm lý 3% trong phiên hôm thứ Tư, tiến sát mức đỉnh cao năm 2014 là 3,041%. Tuy nhiên, sau đó lợi suất trái phiếu 10 năm của Mỹ lại quay đầu giảm trở lại và hiện đang dừng ở mức 2,990%.

So với yên Nhật, hiện đồng USD giảm nhẹ 0,05% xuống còn 109,68 JPY/USD, nhưng vẫn rất gần so với mức cao nhất trong 3 tháng là 110,05 JPY/USD thiết lập trong phiên ngày 2/5.

Trong khi, đồng euro cũng phục hồi 0,14% lên 1,1867 USD sau khi rơi xuống thấp nhất trong vòng 4,5 tháng là 1,1823 USD trong phiên giao dịch hôm thứ Tư. Tính chung, đồng euro đã giảm tới 6 trong 7 phiên giao dịch gần đây nhất.

Đồng bảng Anh cũng phục hồi nhẹ 0,13% lên 1,3565 USD, song vẫn đang giao dịch gần sát mức thấp nhất 4 tháng là 1,3485 USD thiết lập trong phiên giao dịch đầu tuần khi các nhà đầu tư kỳ vọng NHTW Anh sẽ giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp kết thúc vào cuối ngày hôm nay. Những dữ liệu kinh tế yếu kém của Anh gần đây và lo ngại mới về thỏa thuận Brexit đã khiến thị trường giảm kỳ vọng vào khả năng tăng lãi suất trong tháng này.

Đồng đôla New Zealand giảm 0,9% xuống mức thấp nhất trong 5 tháng là 0,6929 USD sau khi Ngân hàng Dự trữ New Zealand (RBNZ) giữ nguyên lãi suất và cho biết, động thái tiếp theo có thể là cắt giảm lãi suất.

“RBNZ đã gây nhiều ngjc nhiên cho thị trường với một sự thay đổi này. Họ đã giữ ổn định OCR (lãi suất tiền mặt chính thức) đúng như kỳ vọng của thị trường, nhưng điều đáng chú ý là OCR có thể di chuyển “lên hoặc xuống”, chứ không phải chỉ đơn giản là giữ - một sự mềm dịu đôi chút trong quan điểm của họ”, Imre Speizer - nhà kinh tế học tại Westpac ở Auckland nói.

Các đồng tiền hàng hóa khác cũng được hưởng lợi từ sự điều chỉnh của đồng USD. Cụ thể, đôla Úc tăng 0,13% lên 0,7473 USD; đôla Canada tăng 0,15% lên 1,2833 CAD/USD.

Đáng chú ý là đồng ringgit của Malaysia giảm 2,4% trong thị trường kỳ hạn không giao dịch, mức giảm hàng ngày lớn nhất trong 1,5 năm, sau khi liên minh cầm quyền của Malaysia, vốn đã thống trị đất nước trong suốt 6 thập kỷ, bất ngờ thua cuộc khi liên minh đối lập do cựu Thủ tướng Mahathir Mohamad lãnh đạo, đã giành được 118 trên tổng số 222 ghế, vượt mức 112 phiếu phiếu cần thiết để thành lập chính phủ.

Đồng won Hàn Quốc, vốn đang được hưởng lợi lớn khi căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên đang dần được tháo gỡ, cũng bật tăng mạnh lên mức 1.076,18 KRW/USD.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.740 22.810 26.464 26.781 30.080 30.562 204,66 208,58
BIDV 22.740 22.810 26.467 26.774 30.099 30.550 205,36 208,39
VietinBank 22.736 22.816 26.419 26.797 30.051 30.611 205,31 208,71
Agribank 22.730 22.810 26.648 26.969 30.281 30.704 202,97 206,12
Eximbank 22.720 22.810 26.438 26.782 30.174 30.568 206,32 209,01
ACB 22.750 22.820 26.448 26.780 30.278 30.581 206,61 209,20
Sacombank 22.748 22.830 26.518 26.873 30.286 30.648 206,16 209,23
Techcombank 22.720 22.820 26.198 26.913 29.857 30.696 204,94 210,41
LienVietPostBank 22.720 22.810 26.574 27.027 30.396 30.648 203,44 207,08
DongA Bank 22.740 22.810 26.490 26.790 30.210 30.600 204,60 208,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.700
Vàng SJC 5c
36.500
36.720
Vàng nhẫn 9999
35.950
36.350
Vàng nữ trang 9999
35.600
36.300