10:00 | 11/05/2018

USD trượt xa khỏi mức đỉnh 2018 do lạm phát tại Mỹ yếu

Đồng USD chỉ biến động nhẹ trong phiên sáng thứ Sáu (11/5) sau khi giảm mạnh trong phiên giao dịch Mỹ hôm qua vì lạm phát tại Mỹ tăng thấp hơn dự kiến khiến các nhà đầu tư thu hẹp mức cược về việc lãi suất tại Mỹ sẽ được tăng nhanh hơn.

NHTW Anh giữ nguyên lãi suất, giảm dự báo tăng trưởng và lạm phát
Giá tiêu dùng của Mỹ chỉ phục hồi khiêm tốn trong tháng 4
Fed giữ nguyên lãi suất, song lạc quan về triển vọng lạm phát

Bộ Lao động Mỹ hôm thứ Năm (10/5) cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lõi, trong đó đã loại bỏ giá năng lượng và thực phẩm tươi sống, chỉ tăng 0,1% so với tháng trước trong tháng 4, thấp hơn so với dự báo các nhà kinh tế là tăng 0,2%. Tính trên cơ sở hàng năm, CPI lõi tăng 2,1% trong tháng 4, tương đương mức tăng của tháng 3.

Việc giá tiêu dùng tại Mỹ tăng thấp hơn dự kiến đã ủng họ luồng quan điểm tăng lãi suất một cách từ tốn hơn là việc tăng tích cực hơn. “Với việc giá dầu tăng mạnh gần đây, sự suy yếu của đồng USD hồi đầu năm nay, và động thái cắt giảm thuế của Mỹ, thị trường rõ ràng đang lo lắng nhiều hơn về rủi ro lạm phát tăng cao”, Minori Uchida, nhà chiến lược tiền tệ chính của MUFG Bank cho biết. Thế nhưng, số liệu về CPI tại Mỹ đã làm vơi đi những lo ngại này.

Hệ quả là đồng USD quay đầu giảm khá mạnh trong phiên giao dịch Mỹ hôm qua (phiên qua đêm). Hiện chỉ số USD so với rổ gồm 6 đồng tiền chủ chốt khác đã giảm về còn 92,71 điểm, cách xa  mức đỉnh 4,5 tháng là 93,42 điểm thiết lập trong phiên giao dịch thứ Tư.

Trong khi đó, đồng euro đã tăng trở lại mức 1.1916 USD từ mức thấp nhất trong 4,5 tháng 1,1823 USD thiết lập trong phiên hôm thứ Tư. Đồng tiền chung cho đến nay đã vượt qua tác động từ việc tăng lợi suất trái phiếu của Italia do những bất ổn chính trị của nước này.

So với đồng yen, đồng tiền chung cũng tăng lên 130,36 JPY/EUR, mở rộng mức hồi phục từ mức thấp nhất trong tuần là 129,24 JPY/EUR thiết lập trong phiên hôm thứ Ba.

Trong khi đó, đồng USD sáng nay ổn định ở mức 109,41 JPY/USD, song đã trượt xa khỏi mức đỉnh 110,02 JPY/USD của phiên hôm thứ Năm và càng cách xa mức đỉnh 3 tháng là 110,05 JPY/USD thiết lập ngày 2/5.

Trong khi đó, đồng bảng Anh cũng đã phục hồi trở lại 0,07% lên 1,3528 USD sau khi sụt giảm rất mạnh trong phiên hôm qua do NHTW Anh vẫn giữ nguyên lãi suất và cắt giảm dự báo tăng trưởng và lạm phát của Anh, khiến thị trường giảm đặt cược xuống còn 50% cơ hội lãi suất sẽ được tăng vào tháng 8.

Về diễn biến một số đồng tiền khác, đồng đôla Úc, vốn đã bị ảnh hưởng mạnh do mất đi vị thế được yêu thích như là đồng tiền có lãi cao nhất trong các nước phát triển khi lãi suất của Mỹ tăng lên, cũng nhích nhẹ trở lại mức 0,7534 USD từ mức thấp nhất trong 11 tháng là 0,7413 USD.

Đồng đôla New Zealand cũng tăng trở lại từ mức thấp nhất trong 5 tháng là 0,6903 USD thiết lập trong phiên hôm thứ Năm sau những lời lẽ khá “hiền” của NHTW nước này. Hiện nó đang được giao dịch ở mức 0,6966 USD.

Sự suy yếu của đồng USD cũng là tín hiệu tích cực đối với các đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi, vốn đang chịu áp lực lớn bởi những lo ngại về dòng vốn có thể đảo chiều chảy về Mỹ, nơi mà lợi suất ngày càng trở nên hấp dẫn.

Đơn cử, đồng lira Thổ Nhĩ Kỳ hiện đang đứng ở mức 4,2374 TRY/USD, cao hơn nhiều so với mức thấp kỷ lục là 4,3780 TRY/USD thiết lập hôm thứ Tư.

Đồng ringgit Malaysia ổn định ở mức 4,0600 MYR/USD ở thị trường kỳ hạn nước ngoài, sau khi rơi xuống thấp nhất trong 6 tháng là 4,1350 MYR/USD trong phiên hôm thứ Năm. Những tổn thất ban đầu đối với đồng ringgit xảy ra trong bối cảnh không chắc chắn sau khi đảng của cựu Thủ tướng Mahathir Mohamad đã giành thắng lợi vang dội trong cuộc bầu cử mới đây, đánh bại liên minh đã thống trị đất nước này trong suốt 6 thập kỷ.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.740 22.810 26.464 26.781 30.080 30.562 204,66 208,58
BIDV 22.740 22.810 26.467 26.774 30.099 30.550 205,36 208,39
VietinBank 22.736 22.816 26.419 26.797 30.051 30.611 205,31 208,71
Agribank 22.730 22.810 26.648 26.969 30.281 30.704 202,97 206,12
Eximbank 22.720 22.810 26.438 26.782 30.174 30.568 206,32 209,01
ACB 22.750 22.820 26.448 26.780 30.278 30.581 206,61 209,20
Sacombank 22.748 22.830 26.518 26.873 30.286 30.648 206,16 209,23
Techcombank 22.720 22.820 26.198 26.913 29.857 30.696 204,94 210,41
LienVietPostBank 22.720 22.810 26.574 27.027 30.396 30.648 203,44 207,08
DongA Bank 22.740 22.810 26.490 26.790 30.210 30.600 204,60 208,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.700
Vàng SJC 5c
36.500
36.720
Vàng nhẫn 9999
35.950
36.350
Vàng nữ trang 9999
35.600
36.300