08:51 | 10/10/2018

Vẫn là cân bằng chính sách kinh tế vĩ mô

Chia sẻ với Thời báo Ngân hàng góc nhìn về kinh tế Việt Nam, ông Eric Sidgwick - Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam cho rằng, trước sự phức tạp của những thách thức bên ngoài và khó khăn trong nước đòi hỏi phải đảm bảo các chính sách kinh tế vĩ mô (KTVM) cân bằng để duy trì tính bền vững trong khi tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng.

Thủ tướng: Rất nhiều cơ hội từ triển vọng tăng trưởng của Việt Nam
Tăng trưởng tốt, dấu ấn doanh nghiệp Việt đang dần rõ nét hơn
Standard Chartered: Việt Nam tăng trưởng kinh tế nhanh nhất ASEAN
Ông Eric Sidgwick

Xin ông cho biết nhìn nhận của ADB về triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm nay và năm tới?

Tình hình kinh tế Việt Nam chuyển biến tích cực trong năm 2018 nhờ các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đều duy trì được tăng trưởng và có ngành tăng mạnh trở lại. Do đó, triển vọng kinh tế năm 2018 và 2019 vẫn tích cực. Tuy nhiên, do những yếu tố bất ổn của môi trường bên ngoài cũng như các khó khăn trong nước nên trong báo cáo kinh tế Triển vọng Phát triển châu Á (ADO) 2018 cập nhật của ADB mới đây, chúng tôi đã điều chỉnh giảm một chút cho dự báo tăng trưởng năm 2018 ở mức 6,9% và giữ nguyên dự báo tăng trưởng cho năm 2019 ở mức 6,8%. Đồng thời, dự báo lạm phát được điều chỉnh tăng từ 3,7% lên 4% cho năm 2018 và từ 4% lên 4,5% cho năm 2019 (so với dự báo đưa ra trong tháng 4/2018).

Nhiều ý kiến cho rằng, giữ vững ổn định KTVM vẫn cần là một ưu tiên quan trọng trong chỉ đạo, điều hành kinh tế của Chính phủ và đây cũng là yếu tố quan trọng củng cố niềm tin của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?

Duy trì ổn định KTVM là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững và toàn diện. Để đạt được điều này, trước hết, Việt Nam cần tạo điều kiện để khu vực tư nhân hoạt động như một động lực phát triển kinh tế, thông qua hỗ trợ các DN mở rộng năng lực và quy mô hoạt động. Cùng với đó, cần ưu tiên trang bị các kỹ năng cho người nghèo. Đây là đối tượng cần được tiếp cận với các công việc phi nông nghiệp để giảm chênh lệch thu nhập. Điều quan trọng nữa là cần khai thác tốt hơn các công nghệ tiên tiến thông qua các chính sách để chủ động mở ra các kênh mới cho tăng trưởng kinh tế.

Một điều quan trọng khác là cần nâng cao hiệu quả của chi tiêu công để tập trung các nguồn lực cho cải thiện cơ sở hạ tầng (CSHT) và các dịch vụ công. ADB đã và đang giúp Việt Nam tăng cường khung pháp lý quản lý tài chính công, tập trung vào quản lý ngân sách nhà nước và quản lý đầu tư công, cũng như xây dựng năng lực thực hiện của các bộ và các địa phương. Bộ máy quản lý có trách nhiệm và hiệu quả, đặc biệt ở cấp tỉnh sẽ là trọng tâm của việc quản lý có hiệu quả những thay đổi quy mô lớn về kinh tế và xã hội.

Duy trì ổn định KTVM là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững và toàn diện

Các dấu hiệu bất ổn đối với nền kinh tế toàn cầu đang gia tăng, đặc biệt là căng thẳng thương mại Mỹ-Trung vẫn đang tiếp diễn. Theo ông, điều đó có những tác động nào tới một nền kinh tế mở và tăng trưởng chủ yếu dựa vào xuất khẩu như Việt Nam?

Những mâu thuẫn thương mại leo thang giữa Trung Quốc và Mỹ có thể tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với Việt Nam. Nếu căng thẳng thương mại leo thang và mở rộng, các công ty Mỹ có thể bị buộc phải nhập khẩu từ các nước khác để thay thế cho các sản phẩm của Trung Quốc sẽ trở nên đắt hơn do chịu mức thuế cao. Điều này sẽ mở ra cơ hội cho Việt Nam tăng xuất khẩu sang Mỹ. Ngoài ra, các công ty Trung Quốc cũng có thể tái phân bổ sản xuất của mình sang các nước láng giềng, trong đó Việt Nam có thể là “thiên đường an toàn” cho xuất khẩu sang Mỹ.

Tuy nhiên, những thách thức có thể “nặng ký” hơn so với các cơ hội. Theo đó, căng thẳng thương mại leo thang giữa hai nền kinh tế thương mại lớn nhất sẽ làm giảm thương mại toàn cầu và do đó tác động xấu đến triển vọng tăng trưởng kinh tế. Việt Nam với mức độ mở cửa thương mại rất cao - gần 190% GDP - sẽ có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu nhu cầu tổng cầu thương mại toàn cầu giảm. Song song với quá trình này, các nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể xem xét điều chỉnh kế hoạch kinh doanh của họ và điều này sẽ ảnh hưởng đến dòng vốn FDI vào Việt Nam.

Cùng với đó, nếu Trung Quốc dự định giảm giá đồng nhân dân tệ để củng cố năng lực cạnh tranh thương mại, thì có thể tạo áp lực lên tiền đồng, làm tăng áp lực lạm phát. Trong khi đó, khi Trung Quốc, Mỹ và các quốc gia khác có thể bị ảnh hưởng bởi chiến tranh thương mại, sẽ phải tìm kiếm thị trường xuất khẩu, làm tăng cạnh tranh thị trường đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng có thể áp dụng biện pháp đối phó đối với xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ, nếu những hàng xuất khẩu này được cho là có nguồn gốc xuất xứ từ Trung Quốc.

Vậy trước những thách thức bên ngoài và khó khăn trong nước hiện nay, ADB có các khuyến nghị chính sách gì để hóa giải được thách thức này một cách có hiệu quả?

Sự phức tạp của những thách thức bên ngoài và khó khăn trong nước đòi hỏi phải đảm bảo các chính sách KTVM cân bằng để duy trì tính bền vững trong khi tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng. Chính sách tiền tệ cần cho phép linh hoạt tỷ giá hối đoái lớn hơn và dần chuyển đổi khung chính sách từ việc tập trung vào ổn định tỷ giá và nhắm vào mục tiêu tín dụng sang mục tiêu kiểm soát lạm phát. Chính sách tài khóa tập trung vào việc mở rộng cơ sở thuế và tăng cường quản lý thuế để tạo nguồn đầu tư cho phát triển các CSHT thiết yếu.

Về lâu dài, trong khi điều quan trọng là giữ vững kỷ luật trong chi tiêu, cũng cần phải ưu tiên đầu tư phát triển CSHT thiết yếu, những cơ sở được coi là kém phát triển tại thời điểm này. Để duy trì tăng trưởng trong năm 2019, Chính phủ Việt Nam cần tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển CSHT.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện các khung chính sách, pháp lý và thể chế, thúc đẩy mô hình hợp tác PPP, phát triển các thị trường tài chính hiệu quả và bền vững hơn, đặc biệt là thị trường trái phiếu DN và thị trường chứng khoán. Phát triển thị trường vốn đồng nội tệ cũng là điều kiện tiên quyết để tài trợ cho phát triển CSHT.

Để có thể hóa giải các tác động bên ngoài, nhất là từ căng thẳng thương mại Mỹ-Trung, tôi cho rằng một mặt, Việt Nam cần đa dạng hoá thị trường xuất khẩu thông qua quan hệ đối tác với ASEAN, CPTPP và các FTA song phương và đa phương khác. Mặt khác, cần đẩy nhanh việc cải thiện MTKD thông qua đơn giản hóa, giảm các thủ tục kinh doanh và phối hợp chặt chẽ, hiệu quả và nhịp nhàng hơn giữa các cơ quan quản lý để tạo điều kiện thuận lợi cho các DN hoạt động. Bên cạnh đó, cần cải thiện các biện pháp kiểm dịch động, thực vật và các tiêu chuẩn kỹ thuật về xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời cần tăng cường hỗ trợ tài chính thương mại, đặc biệt là hỗ trợ cho các DNNVV.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.444 26.318 29.676 30.181 20582 22037
BIDV 23.145 23.265 25.513 26.260 29.766 30.332 20783 21466
VietinBank 23.126 23.256 25.447 26.282 29.663 30.303 21053 21653
Agribank 23.145 23.255 25.430 26.822 29.641 30.126 21072 21455
Eximbank 23.140 23.250 25.484 25.835 29.808 30.219 21197 21490
ACB 23.130 23.250 25.478 25.828 29.882 30.218 21197 21488
Sacombank 23.105 23.265 25.476 26.080 29.841 30.244 21131 21585
Techcombank 23.134 23.274 25.242 26.237 29.483 30.406 21045 21761
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.408 25.878 29.825 30.264 21161 21557
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.280
41.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.280
41.500
Vàng SJC 5c
41.280
41.520
Vàng nhẫn 9999
41.210
41.660
Vàng nữ trang 9999
40.700
41.500