10:19 | 11/10/2017

Vẫn nhiều vấn đề cần giải quyết

Chính phủ quyết tâm thực hiện Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội  năm 2017 và  5 năm 2016 - 2020 ở mức cao nhất với tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt từ 6,5 - 7%/năm.

Tăng trưởng cả năm có thể đạt trên 6,7%
Ấn tượng và kỳ vọng
Nhiều khả năng năm nay sẽ hoàn thành tất cả 13 chỉ tiêu

Theo dự kiến, ngày mai 12/10, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến về báo cáo đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2017. Đến thời điểm này, mục tiêu tăng trưởng GDP là 6,7% có thể đạt được nhưng Chính phủ cần phải giải quyết rốt ráo là rà soát và đưa ra lời giải cho bài toán DNNN thua lỗ kéo dài…

Từ ý chí

Đúng như nhận định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng: nền kinh tế đã đi qua thời kỳ khó khăn nhất khi khả năng cán đích của mục tiêu tăng trưởng GDP đã trong tầm tay. Sau 3/4 chặng đường năm 2017, GDP quý III đã đạt mức tăng đột phá 7,46%. Đây là mức tăng cao kỷ lục trong khoảng 10 năm trở lại đây và góp phần đưa GDP 9 tháng đầu năm 2017 đạt 6,41%. 13 chỉ tiêu mà Quốc hội giao cũng cán đích toàn diện, với 5 chỉ tiêu vượt, 8 chỉ tiêu đạt, một kết quả chưa từng có trong nhiều năm qua.

Ảnh minh họa

Có được mức tăng GDP này trước hết là do ngành thuỷ sản tăng trưởng trên 5%. Sau nữa, lần đầu tiên ngành công nghiệp chế biến chế tạo đạt mức tăng trưởng 12,8%-mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Cùng đó là sự phát triển của nhóm ngành dịch vụ. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Ngoài ra còn có sự đóng góp không nhỏ của khu vực FDI. Với đà tăng trưởng này, nhiều khả năng đến cuối năm, mục tiêu GDP của Việt Nam có thể đạt được, dù kịch bản tăng trưởng của quý IV phải đạt 7,31%.

Nhìn lại thời điểm Kỳ họp thứ 3 của Quốc hội diễn ra cách đây 4 tháng, tại Nghị trường, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội bày tỏ nghi ngại rằng tăng trưởng GDP năm nay khó có thể cán đích khi mức tăng GDP quý I/2017 chỉ đạt 5,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn so với mức tăng 6,12% của cùng kỳ năm 2015 và 5,48% của cùng kỳ năm 2016 và gợi ý Chính phủ nên điều chỉnh mục tiêu để có sự chủ động hơn trong điều hành kinh tế, bởi mục tiêu tăng GDP cho năm 6,7% là không thể. Song, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định, không điều chỉnh, không bàn lùi. Chính phủ quyết tâm thực hiện Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội  năm 2017 và  5 năm 2016 - 2020 ở mức cao nhất với tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt từ 6,5 - 7%/năm.

Đến những bài toán hiệu quả

Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ có những đánh giá cụ thể về nỗ lực điều hành phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ vào ngày 12/10. Song để có thể đồng thuận quan điểm cho rằng nền kinh tế đã thực sự đi qua thời kỳ khó khăn nhất, là điều chưa dễ dàng. Bởi nhiệm vụ nặng nề vẫn còn ở phía trước, không vì say sưa với kết quả đạt được mà sớm chủ quan.

Bên cạnh việc nâng cao chất lượng tăng trưởng là nhiệm vụ nặng nề cần được giải quyết rốt ráo là các dự án thua lỗ kéo dài. Còn nhớ ngay tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIV, rất nhiều đại biểu Quốc hội đã yêu cầu Chính phủ phải công bố công khai về các dự án này và 5 “siêu” dự án đầu tiên đã bị chỉ ra. Vài tuần sau đó, con số này nâng lên thành 12. Và vấn đề tiếp tục được đặt ra, vậy đây đã là con số cuối cùng chưa, hay chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm” và yêu cầu Chính phủ phải thực hiện tổng rà soát.

Kết quả là sau hơn một năm thực hiện việc này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố 72 dự án của DNNN có dấu hiệu đầu tư không hiệu quả. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng có lẽ đây vẫn chỉ là phần nhỏ, bởi con số này mới chỉ được thống kê tại 12 bộ, ngành, 39 địa phương, 2 tập đoàn kinh tế, 9 tổng công ty nhà nước.

Một số bộ, địa phương quản lý nhiều DNNN như: Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, UBND TP. Hà Nội, UBND TP. Hồ Chí Minh; Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Hóa chất; Tổng công ty Xi măng, Tổng công ty Sông Đà… đều chưa gửi báo cáo về Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp. Như vậy, tính ra mới có khoảng 250/800 DNNN được rà soát đánh giá tình hình đầu tư các dự án từ giai đoạn 2000 - 2016, chỉ chiếm 31,25% tổng số DNNN phải thực hiện rà soát, báo cáo-một tỷ lệ rất thấp.

Một số ý kiến tỏ ra lo lắng về con số 72 dự án với tổng mức đầu tư được phê duyệt sau cùng là gần 43.000 tỷ đồng không hiệu quả. Một số ý kiến khác thì khẳng định với thực trạng này, hẳn là sẽ có thêm một lượng không nhỏ ngân sách nữa bị thất thoát, lòng tin của người dân vào hoạt động của DNNN chắc chắn cũng sẽ bị xói mòn. Song dù sao, chúng ta cũng đã dám nhìn thẳng vào thực tại. Vấn đề là cùng với việc rà soát và công bố công khai, Chính phủ cần rốt ráo xử lý một cách minh bạch các dự án này để lấy lại niềm tin trong nhân dân.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,20
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,50
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,90
4,90
4,90
6,00
6,10
6,70
7,00
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
-
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,60
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.680 22.750 27.666 28.997 31.224 31.725 20835 21232
BIDV 22.680 22.750 27.687 28.008 31.251 31.722 209,30 21243
VietinBank 22.672 22.752 27.632 28.038 31.203 31.763 20907 212,55
Agribank 22.670 22.745 27.794 28.127 31.410 31.914 205,29 211,49
Eximbank 22.660 22.750 27.666 28.026 31.341 31.750 21025 212,99
ACB 22.680 22.750 27.686 28.033 31.439 31.754 21035 212,99
Sacombank 22.675 22.768 27.726 28.086 31.431 31.787 21002 21311
Techcombank 22.650 22.750 27.342 28.233 31.976 32.884 20853 21425
LienVietPostBank 22.640 22.765 27.609 28.077 31.377 31.796 20889 21259
DongA Bank 22.680 22.750 27.090 27.400 30.480 30.830 199,80 202,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.920
37.090
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.920
37.070
Vàng SJC 5c
36.920
37.090
Vàng nhẫn 9999
36.670
37.070
Vàng nữ trang 9999
36.320
37.020