16:00 | 26/01/2018

Về cơ bản, khó giảm tiếp lãi suất

Theo TS. Cấn Văn Lực về cơ bản khó có thể giảm tiếp. Có 5 nguyên nhân chính tạo lực cản cho điều này...

SHB giảm lãi suất vay ngắn hạn VND xuống tối đa 6%/năm
Đà giảm lãi suất cho vay lan tỏa
Tin vui đầu năm mới
TS. Cấn Văn Lực

Ngay từ đầu năm 2018 liên tục có thông tin tích cực từ thị trường lãi suất cho vay của các NHTM và cả cơ quan quản lý như: một số NHTM giảm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên; NHNN giảm lãi suất cho vay trên OMO…

Theo đánh giá của TS. Cấn Văn Lực, động thái trên của hệ thống ngân hàng rất tích cực, hưởng ứng kêu gọi của Chính phủ và chỉ giảm lãi suất đối với một số lĩnh vực ưu tiên là đúng đắn và phù hợp. Hiện nay theo tính toán của TS. Lực, dư nợ cho vay lĩnh vực ưu tiên đang chiếm khoảng 48-50% trên tổng dư nợ.

Vì sao ông lại cho rằng không nên giảm lãi suất cho tất cả đối tượng?

Bởi nếu giảm lãi suất cho vay vào những lĩnh vực rủi ro lại tăng khả năng đầu cơ. Cả người đi vay và cho vay đều rủi ro.

Theo ông, với bối cảnh hiện nay, liệu lãi suất có thể giảm thêm?

Theo tôi về cơ bản khó có thể giảm tiếp. Có 5 nguyên nhân chính tạo lực cản cho điều này. Một là năm nay kỳ vọng lạm phát ở mức cao hơn năm ngoái.

Thứ hai, nhu cầu huy động vốn cho nền kinh tế vẫn tương đối lớn với mục tiêu tăng trưởng tín dụng của cả năm 2018 ở mức 17%, trong khi Thông tư 06 điều chỉnh giảm tỷ lệ huy động vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn xuống còn 45%, giảm nhẹ so với năm trước. Có nghĩa là ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh nguồn vốn trung dài hạn và tất nhiên là lãi suất huy động cao hơn mới huy động được nguồn vốn này.

Thứ ba, chính vì kỳ vọng lạm phát ở mức độ cao hơn nên lãi suất đầu vào khó mà giảm được trong bối cảnh các kênh đầu tư khác đang rất hấp dẫn như chứng khoán, BĐS. Thậm chí, thị trường xuất hiện thêm kênh mới, dù chưa được cơ quan quản lý cấp phép nhưng vẫn thu hút tiền nhàn rỗi trong dân là tiền kỹ thuật số. Kênh đầu tư nữa là vào khởi nghiệp.

Thứ tư, năm 2018, xử lý nợ xấu được đẩy nhanh hơn, nhưng cũng không thể cấp tốc mà quá trình xử lý TSĐB cũng phải có thời gian nhất định.

Cuối cùng là chênh lệch lãi suất giữa đầu vào đầu ra năm 2017 đang ở mức 2,4-2,5%. Đây là mức gần như là thấp nhất trong khu vực ASEAN và Đông Á.

Tuy nhiên với nỗ lực của các NHTM bằng việc tiếp tục cắt giảm chi phí hoạt động, hay NHNN dùng một số công cụ như cho vay tái cấp vốn nhiều hơn với lãi suất tốt hơn, tôi nghĩ vẫn có thể góp phần giảm thêm một phần nào lãi suất.

Sau khi NHNN giảm lãi suất OMO, có ý kiến cho rằng dường như NHNN phát đi thông điệp nới lỏng chính sách tiền tệ?

Động thái trên của NHNN phần nhiều nhằm hỗ trợ giảm lãi suất. Mặt khác, NHNN bơm vốn ra với lãi suất thấp như vậy, nhưng lại tìm cách hút tiền vào. Như vậy, ở đây không lo chuyện nới lỏng tiền tệ. Năm 2018, NHNN chỉ đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 17%, thấp hơn năm ngoái 1%.

Tại văn bản mới nhất gửi các TCTD, NHNN yêu cầu giám sát chặt việc cho vay tiêu dùng, vì sao vậy thưa ông?

Thời gian qua, một số ý kiến lưu ý đến tín dụng tiêu dùng đang ở mức cao, dấu hiệu nóng. Nhưng ở đây tôi muốn làm rõ hơn một số vấn đề.

Hiện nay tỷ lệ dư nợ cho vay tiêu dùng thực chất chỉ ở mức hơn 15%/năm. Chúng ta vẫn cho vay nhưng phải quản lý giám sát chặt chẽ. Chẳng hạn cần phân loại kỹ hơn, bóc tách khoản vay cho hợp lý… Đơn cử, cho vay sửa chữa nhà, thuê nhà là cho vay tiêu dùng theo đúng tinh thần Thông tư 39/2016/NHNN, Thông tư 43/2016/TT-NHNN. Nếu tiền đó mua nhà, đầu cơ nhà thì phải đưa vào đầu tư BĐS.

Bên cạnh đó, tôi cho rằng, cho vay tiêu dùng của công ty tài chính và NHTM không thể đánh đồng với cùng một cơ chế quản lý. Vì hai bên huy động vốn khác, khẩu vị rủi ro khác nhau. Việc bóc tách như vậy sẽ giúp cơ quan quản lý chức năng đúng thực chất cho vay tiêu dùng. Chính vì thế, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia công bố tín dụng tiêu dùng năm 2017 tăng 60 - 65%, nhưng tôi cho rằng, con số này chưa phản ánh đúng bản chất.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,50
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,20
4,60
5,30
5,50
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.290 23.370 27.276 27.613 30.596 31.100 204,12 210,64
BIDV 23.290 23.370 27.278 27.607 30.620 31.090 204,92 208,35
VietinBank 23.285 23.375 27.237 27.615 30.574 31.134 204,90 208,30
Agribank 23.255 23.345 27.011 27.347 30.315 30.753 205,20 208,45
Eximbank 23.280 23.380 27.272 27.636 30.712 31.122 205,65 208,41
ACB 23.300 23.380 27.294 27.646 30.820 31.139 205,56 208,30
Sacombank 23.295 23.387 27.329 27.686 30.802 31.166 205,87 208,94
Techcombank 23.260 23.380 27.013 27.759 30.370 31.233 204,37 209,76
LienVietPostBank 23.260 23.360 27.213 27.680 30.743 31.166 205,14 208,81
DongA Bank 23.300 23.380 27.300 27.620 30.740 31.110 204,50 208,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.520
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.520
36.670
Vàng SJC 5c
36.550
36.720
Vàng nhẫn 9999
34.350
34.750
Vàng nữ trang 9999
33.900
34.700