09:40 | 11/10/2018

VEPR: Tăng trưởng năm 2018 sẽ trên 6,8%

Qua báo cáo của VEPR, các chuyên gia cho rằng nền tảng kinh tế vĩ mô của Việt Nam vẫn còn yếu. Vì vậy, về mặt vĩ mô, Việt Nam cần tranh thủ nỗ lực tạo thêm dự địa chính sách để tăng sức chịu đựng trước những rủi ro sắp tới từ môi trường toàn cầu.

Năm 2018, kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng hơn 6,8%
Vẫn là cân bằng chính sách kinh tế vĩ mô
Thủ tướng: Rất nhiều cơ hội từ triển vọng tăng trưởng của Việt Nam

Theo Báo cáo kinh tế vĩ mô quý 3 vừa được công bố hôm 10/10, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VERP) dự báo, với mức tăng trưởng tích cực 6,88% của quý 3, nhiều khả năng kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 6,84% trong năm nay. Mục tiêu lạm phát bình quân dưới 4% cũng sẽ đạt được nếu không có cú sốc lớn nào về giá năng lượng trong quý 4.

Báo cáo lần này của VERP ghi nhận nền kinh tế đã giữ được đà tăng trưởng khi tất cả các khu vực (dịch vụ; công nghiệp và xây dựng; nông, lâm, ngư nghiệp) đều tăng trưởng tích cực, thậm chí cao hơn tương đối nhiều so với cùng kỳ các năm trước. Chỉ số hoạt động kinh tế VEPI do VEPR xây dựng đạt mức 6,53% trong quý 3, đánh dấu sự tăng trở lại sau khi giảm ở hai quý đầu năm. Trong khi đó, các cân đối vĩ mô tiếp tục cải thiện, thể hiện ở cán cân thương mại tiếp tục thặng dư; cán cân ngân sách cải thiện so với cùng kỳ các năm trước; tiêu dùng tăng ổn định… càng củng cố cho đà tăng trưởng cao của năm nay.

Tuy nhiên báo cáo của VERP cũng chỉ ra, có nhiều yếu tố trong nước và ngoài nước đang là thách thức, khó khăn cho việc tiếp tục duy trì tăng trưởng cao trong khi vẫn kiềm chế được lạm phát trong năm tới.

Mặc dù lạm phát được đánh giá vẫn nằm trong tầm kiểm soát nhưng lại lo ngại về lạm phát trong năm 2019 nếu như giá nhiên liệu thế giới tiếp tục ở mức cao đồng thời Việt Nam áp kịch trần thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu (từ 3.000 lên 4.000 đồng/lít) kể từ 1/1/2019. Chỉ 1.000 đồng thuế xăng dầu tăng thêm sẽ làm cho lạm phát trong vòng một năm tới tăng thêm 1,6%.

Cũng cùng quan điểm này, TS. Phạm Thế Anh (Đại học Kinh tế quốc dân) cho rằng việc đánh thuế vào xăng dầu còn kéo theo các tác động khác, ảnh hưởng đến nguyên vật liệu sản xuất, làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng tới giá hàng hóa và chi phí của DN như vậy sẽ tác động đến cả tiêu dùng hộ gia đình và DN.

Một vấn đề khác là trong khi số DN thành lập mới tăng không nhiều thì số DN tạm ngừng hoạt động tiếp tục tăng khá mạnh. Cụ thể, 3 quý đầu năm, số DN thành lập mới đạt hơn 96 nghìn DN, chỉ tăng 2,8% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng số DN tạm ngừng hoạt động lại tăng rất cao, lên trên 73 nghìn DN và ghi nhận tốc độ tăng lên đến 48,1% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, những con số như vậy cho thấy các nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh (MTKD) chưa mang lại hiệu ứng tích cực cho DN. Thực tế đó cho thấy, mục tiêu có khoảng 1 triệu DN hình thành và hoạt động có hiệu quả vào năm 2020 sẽ khó có thể đạt được nếu sự quyết liệt trong cải thiện MTKD - vốn đang rất nóng ở bên trên - nhưng lại không thông suốt xuống phía dưới.

Một điểm đáng chú ý nữa là công nghiệp chế biến, chế tạo - ngành được coi là động lực chính của tăng trưởng - tiếp tục có tốc độ tăng cao (12,9%) trong 9 tháng vừa qua. Tuy nhiên theo TS. Nguyễn Đức Thành - Viện trưởng VEPR thì giá trị gia tăng tạo ra trong ngành này chủ yếu tới từ khu vực FDI. Điều này cho thấy sự phụ thuộc ngày càng nhiều của tăng trưởng kinh tế Việt Nam vào khu vực FDI. Trong khi đó, số liệu quý 3 cho thấy lượng vốn FDI đăng ký mới và vốn đăng ký bổ sung đã giảm tương đối mạnh so với cùng kỳ 2017.

Về các yếu tố bên ngoài, một trong những quan ngại lớn hiện nay được các chuyên gia chỉ ra là hàng hóa cơ bản, đặc biệt là giá dầu mỏ tăng cao (và thực tế trong thời gian qua đã ảnh hưởng khiến giá xăng dầu trong nước liên tục tăng mạnh), dẫn tới các tác động trực tiếp và gián tiếp cũng như xu hướng lạm phát tăng trên toàn cầu. Bên cạnh đó, xu hướng các NHTW lớn trên thế giới thắt chặt chính sách tiền tệ và cuộc chiến thương mại leo thang giữa các nước lớn cũng đặt ra các thách thức không nhỏ.

Về lâu dài để thích ứng với bối cảnh hiện nay, đặc biệt là xung đột thương mại, Việt Nam cần nhanh chóng cải cách chuyển đổi thể chế theo hướng tạo lập nền kinh tế thị trường đầy đủ để tránh những đối xử bất lợi theo cách Mỹ đang muốn tạo ra tiền lệ với Trung Quốc. Có thể nói, cuộc đụng độ giữa Mỹ và Trung Quốc hiện nay chính là cơ hội cho Việt Nam thúc đẩy cải cách để chủ động cải thiện tình trạng của chính mình đối với hai nước này – cũng là hai đối tác thương mại lớn của Việt Nam hiện nay.

Qua báo cáo của VEPR, các chuyên gia cho rằng nền tảng kinh tế vĩ mô của Việt Nam vẫn còn yếu. Vì vậy, về mặt vĩ mô, Việt Nam cần tranh thủ nỗ lực tạo thêm dự địa chính sách để tăng sức chịu đựng trước những rủi ro sắp tới từ môi trường toàn cầu. Trong đó, tập trung vào việc tiếp tục giảm thâm hụt ngân sách, tăng thặng dư thương mại, cải thiện MTKD, sắp xếp lại bộ máy Nhà nước, chống tham nhũng…

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.295 23.385 26.828 27.688 30.409 30.896 204,93 213,12
BIDV 23.300 23.380 26.817 27.138 30.514 30.986 205,84 209,29
VietinBank 23.297 23.387 26.750 27.128 30.381 30.941 205,35 208,75
Agribank 23.280 23.380 26.802 27.160 30.531 30.939 206,10 208,85
Eximbank 23.300 23.380 26.785 27.129 29.600 30.916 206,11 208,76
ACB 23.300 23.392 26.875 27.235 30.633 30.988 206,24 209,30
Sacombank 23.295 23.387 26.884 27.245 30.545 30.900 206,87 209,90
Techcombank 23.280 23.380 26.563 27.276 30.210 31.043 20476 210,00
LienVietPostBank 23.280 23.380 26.772 27.239 30.500 30.922 206,55 210,27
DongA Bank 23.300 23.380 26.830 27.140 29.540 30.910 204,80 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.510
36.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.510
36.650
Vàng SJC 5c
36.510
36.670
Vàng nhẫn 9999
34.690
35.090
Vàng nữ trang 9999
34.240
35.040