08:00 | 06/02/2019

Việt Nam ổn định, phát triển trong thế giới bất định

Năm 2018 đi qua với nhiều thành tựu vượt bậc, đặc biệt là về kinh tế: Tăng trưởng cao nhất 11 năm, chất lượng tăng trưởng cải thiện, lạm phát tiếp tục được kiểm soát dưới 4%... Sang năm 2019, Thủ tướng Chính phủ kêu gọi “Không ngủ quên trên chiến thắng”, thể hiện quyết tâm tiếp tục đạt và vượt các mục tiêu quan trọng.

Kinh tế 2019: Động lực có, nỗ lực cần
Thủ tướng: Kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy lợi ích kinh tế
Mục tiêu xuyên suốt năm 2019 là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô
Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ

Nhân dịp đầu xuân Kỷ Hợi, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chia sẻ với Thời báo Ngân hàng về điều hành của Chính phủ năm qua và định hướng cho năm nay.

Năm 2018 vừa đi qua với nhiều thành tựu vượt bậc, chúng ta đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức toàn bộ 12 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội được Quốc hội đề ra. Vậy theo Phó Thủ tướng, đâu là những điểm nhấn đáng chú ý nhất về kinh tế?

Năm qua, lĩnh vực kinh tế đạt được nhiều kết quả nổi bật. Tăng trưởng GDP cả năm đạt 7,08%, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra, gấp đôi mức tăng chỉ số tăng giá tiêu dùng càng làm cho tăng trưởng thêm ý nghĩa. Tăng trưởng kinh tế toàn diện ở cả hai mặt “cung - cầu”. “Cung” toàn diện ở cả 3 lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng dịch vụ. Còn ở phía “cầu”, sức mua thị trường trong nước tăng trưởng trên 2 con số, tăng hơn 11% - mức tăng mà nhiều năm trước ta khó đạt được.

Bên cạnh động lực chính cho tăng trưởng vẫn là công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ, nhưng có một điều ít người nói đến là nhân tố chính làm cho tăng trưởng 2018 cao hơn 2017 chính là mức giảm chậm lại của công nghiệp khai khoáng là 3,11% so với mức giảm 7,16% của năm 2017 và mức tăng trưởng kỷ lục 3,76% của ngành nông nghiệp trong 7 năm trở lại đây.

Không chỉ là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới mà năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn tiếp tục được nâng lên. Nổi bật là nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng là khoảng 40,23%, trong khi cả giai đoạn 2011-2015 chỉ đạt 33,58% và mục tiêu kế hoạch 5 năm là 30-35%.

Bên cạnh đó, còn chỉ số tăng trưởng tín dụng thấp khoảng 14%. Nếu như 2016, để có 1% tăng trưởng GDP thì chúng ta cần 2,94% tăng trưởng tín dụng. Năm 2017 chỉ số này là 2,68% và năm 2018 chỉ còn 2,1%. Mặt khác, giải ngân vốn đầu tư công đến 31/12/2018  chỉ đạt 60-70% kế hoạch. Nếu tính cả thời gian chỉnh lý quyết toán đến hết tháng 1/2019, ước giải ngân vốn đầu tư công khoảng 92%. Nếu giải ngân vốn đầu tư công đạt 100% kế hoạch thì tăng trưởng kinh tế còn cao hơn.

Như vậy vốn đầu tư công “ra” ít hơn, tín dụng tăng ít, ngành công nghiệp khai khoáng tiếp tục giảm mà tăng trưởng GDP vẫn cao, điều này bắt nguồn từ những động lực tăng trưởng bền vững của đất nước là công nghiệp chế biến chế tạo, nông nghiệp, xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ và sức mua của thị trường trong nước như tôi đã nói ở trên. Ngoài ra, còn nhờ năng suất lao động cũng có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm và với mức tăng gần 6% trong năm 2018, Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao nhất trong khu vực ASEAN.

Năm 2018 xuất hiện nhiều yếu tố tác động rất lớn đến nền kinh tế toàn cầu, như việc Fed điều chỉnh lãi suất 4 lần, chiến tranh thương mại gia tăng, các vấn đề về nợ công, thâm hụt ngân sách của một số nước châu Âu... Điều gì khiến nền kinh tế Việt Nam có thể chống chịu tốt và đạt kết quả khả quan như vậy?

Quy mô nền kinh tế hiện nay là khoảng 245 tỷ USD, vẫn còn khiêm tốn, nhưng lại có “độ mở” rất lớn khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cao gấp hơn 2 lần GDP. Do đó, bất kỳ một ảnh hưởng nào từ bên ngoài, dù tốt hay xấu cũng đều tác động trực tiếp và nhanh chóng tới kinh tế nước ta. Công tác điều hành chính sách tài khoá, tiền tệ được Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước thực hiện tốt theo định hướng của Chính phủ và phối hợp chặt chẽ, linh hoạt nhằm thực hiện mục tiêu xuyên suốt là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

Năm 2018, thị trường tài chính, tiền tệ thế giới diễn biến phức tạp, nhưng chúng ta đã gia tăng tích luỹ ngoại hối lên mức kỷ lục hơn 60 tỷ USD, tăng cường được sức chống đỡ của hệ thống ngân hàng - tài chính, tạo ra “vùng đệm” an toàn hơn cho nền kinh tế.

Về sức khỏe của hệ thống ngân hàng, năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng tiếp tục được củng cố hơn. Ước tính đến cuối tháng 12/2018, vốn điều lệ của toàn hệ thống đạt 566,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,6% so với cuối năm 2017; vốn chủ sở hữu ước đạt 787,8 nghìn tỷ đồng, tăng 19,36% so với cuối năm 2017. Tôi cho rằng đây là mức tăng trưởng rất ngoạn mục. Tỷ lệ an toàn vốn bình quân đạt 12,08%, tỷ lệ dự trữ thanh khoản bình quân đạt 17,9%. Hầu hết các tổ chức tín dụng đạt các tỷ lệ, giới hạn an toàn theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ nợ xấu giảm, nợ xấu nội bảng của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 12/2018 ước là 1,89%. Nợ xấu của nền kinh tế giảm từ mức 10,08% năm 2016 xuống còn khoảng 6,5% năm 2018.

Về lĩnh vực tài chính, chúng ta tiếp tục cơ cấu lại thu chi ngân sách nhà nước, bảo đảm an toàn nợ công theo Nghị quyết số 07 của Bộ Chính trị. Theo đó, thu ngân sách năm qua vượt xa dự toán khoảng 7% và vượt thu ở cả ngân sách trung ương và địa phương, cả thu nội địa và thu xuất nhập khẩu, tạo ra thêm nguồn lực để Nhà nước tăng cường chi cho đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh và có phần tích luỹ để cải cách tiền lương. Chi thường xuyên giảm xuống dưới 62%, trong khi mục tiêu của Bộ Chính trị đặt ra là 64% vào 2020 và trước đây, tỷ lệ này lên tới khoảng 70% chi ngân sách. Do cân đối tốt thu chi ngân sách nên bội chi ngân sách chỉ là 3,67%, thấp hơn chỉ tiêu Quốc hội giao là 3,7%. Nợ công giảm về gần mức 61%, cơ cấu nợ chuyển biến tích cực, tỷ lệ nợ nước ngoài giảm, nợ trong nước tăng lên, thời gian trả nợ kéo dài và lãi suất vay nợ giảm khá mạnh.

Tuy nhiên, thị trường chứng khoán được coi như một hàn thử biểu của nền kinh tế lại giảm điểm sau khi duy trì mức tăng trưởng mạnh mẽ “tới đỉnh” vào đầu năm 2018. Phó Thủ tướng đánh giá như thế nào về việc này?

Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa có đánh giá đồng nhất của các chuyên gia vì tăng giảm đan xen. Nhưng theo chúng tôi, thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2018 là thị trường thành công nhất Đông Nam Á về huy động vốn, vượt Singapore về IPO.

Mặc dù giảm điểm so với 2017 nhưng quy mô vốn hoá đạt 3,9 triệu tỷ đồng, tăng 10,6% so với năm trước và gần bằng 80% GDP năm 2017, gần 71% GDP vào năm 2018. Thanh khoản tăng mạnh, đạt bình quân 6.500 tỷ đồng/phiên, tăng 29,6% so với năm 2017.

Thị trường trái phiếu giá trị niêm yết đạt 1,12 triệu tỷ đồng, tương đương 23% GDP năm 2017 và 20,5% GDP năm 2018, trở thành thị trường trái phiếu sôi động nhất châu Á - Thái Bình Dương với giá trị giao dịch 8.300 tỷ đồng/phiên, tương đương 2017. Thị trường chứng khoán phái sinh đạt 78.800 hợp đồng/phiên, tăng 7 lần so với năm 2017.

Trong khi các nhà đầu tư nước ngoài rút ròng ở khu vực thì Việt Nam vẫn được quan tâm, mua ròng 43.000 tỷ đồng thị trường cổ phiếu. Dòng vốn nước ngoài vào thị trường chứng khoán khoảng 2 tỷ USD, tương đương ở mức năm 2017.

Thị trường trái phiếu tiếp tục phát triển sôi động, năm 2018 Kho bạc Nhà nước đã phát hành thành công 192.000 tỷ đồng với kỳ hạn bình quân 12,55 năm - mức dài nhất trong lịch sử từ trước tới nay. Lãi suất huy động trái phiếu Chính phủ giảm mạnh từ 5,98% năm 2017 xuống còn 4,67% của năm 2018. Nhà đầu tư trái phiếu Chính phủ cũng được cơ cấu lại theo hướng tích cực, đa dạng hơn; lượng nắm giữ trái phiếu Chính phủ của các tổ chức tín dụng đã giảm ở mức 78% năm 2016 xuống còn 53,12%.

Năm 2018, Việt Nam kiểm soát lạm phát vượt mục tiêu đặt ra, nhưng thách thức với năm 2019 là rất lớn. Vì sao với dư địa lạm phát của năm nay là “rộng rãi”, được dự đoán từ tháng 11/2018, nhưng Chính phủ không có giải pháp điều chỉnh mạnh hơn, sớm hơn các loại giá nhà nước đang kiểm soát như dịch vụ y tế, giáo dục hay giá điện để tạo dư địa điều hành giá lớn hơn cho 2019?

Khác với các nước, Việt Nam điều hành giá phải theo 2 mục tiêu, thứ nhất là kiểm soát giá theo tín hiệu của thị trường trong nước và thế giới, thứ hai là chủ động điều tiết giá dịch vụ công do Nhà nước quản lý dần theo thị trường. Do vậy, chỉ tập trung vào ứng phó thị trường với hàng hoá dịch vụ thế giới thì điều hành lạm phát sẽ “nhẹ” hơn rất nhiều.

Hồi tháng 11/2018, khi phát hiện ra lạm phát thấp so với kỳ trước thì Chính phủ và cá nhân tôi đã chỉ đạo đưa mức lương cơ bản áp dụng từ 1/7/2018 vào giá dịch vụ y tế trong tháng 12/2018. Việc điều chỉnh này tạo điều kiện để nâng cao tự chủ tài chính cho các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh, đồng thời cũng không ảnh hưởng nhiều đến chi trả của người dân do được đảm bảo bằng thẻ bảo hiểm y tế. Mặc dù vậy, chỉ số giá tháng 12 tiếp tục giảm do giá xăng dầu giảm mạnh, đưa chỉ số CPI cả năm chỉ tăng 3,54%.

Với giá điện, Chính phủ đã có Nghị quyết trong đó yêu cầu không điều chỉnh giá điện trong năm 2018. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban chỉ đạo điều hành giá đã nhất quán thực hiện vì các điều kiện để điều chỉnh tăng giá điện chưa chín muồi và còn để tạo niềm tin cho người dân và doanh nghiệp, không để yếu tố lạm phát kỳ vọng gia tăng làm ảnh hưởng tới kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Với năm 2019, rất nhiều thách thức đang đặt ra, từ bất ổn chính trị ở nhiều nước, chủ nghĩa bảo hộ, những điều chỉnh chính sách ở các nền kinh tế hàng đầu... dự báo tác động mạnh mẽ đến Việt Nam. Chính phủ có chuẩn bị gì trong giải pháp điều hành, thưa Phó Thủ tướng?

Năm 2019, bên cạnh những thuận lợi còn không ít khó khăn, thách thức. Trong bối cảnh ấy, Nghị quyết của Chính phủ xác định phương châm hành động năm nay là “Kỷ cương - Liêm chính - Hành động - Sáng tạo - Bứt phá - Hiệu quả”.

Nếu năm 2018 là năm “bản lề” thì năm 2019 phải “bứt phá” để về đích, để có thể hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của cả giai đoạn 2016 - 2020. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã giao nhiệm vụ cho Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và chính quyền các địa phương là năm 2019 phải khá hơn năm 2018 về mọi phương diện. Ngay trong ngày đầu năm mới, Chính phủ cũng ban hành 2 Nghị quyết số 01 và 02/NQ-CP với đường hướng đã rất rõ ràng, mục tiêu đã rất cụ thể. Vấn đề quan trọng nhất là cần phải có nỗ lực vượt bậc, ý chí quyết tâm, tinh thần “bứt phá”, nhất là trong tổ chức thực hiện ở mọi ngành, mọi cấp, trong từng cơ quan, đơn vị; đề cao vai trò, trách nhiệm của mỗi cán bộ công chức, viên chức, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu.

Chúng ta đang đối mặt với khả năng sẽ phải huy động lãi suất cao hơn từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển. Có gì đáng lo đối với vấn đề này?

Với các năm tới, tuy Việt Nam đã “tốt nghiệp” ODA (vốn hỗ trợ phát triển chính thức - PV), nhưng nguồn vốn này đã đàm phán và ký còn chờ giải ngân là khá nhiều. Quốc hội đã điều chỉnh giảm vốn trái phiếu Chính phủ và tăng vốn ODA tương ứng khoảng 60.000 tỷ đồng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn đến 2020. Bên cạnh đó, chúng ta có thể tăng cường phát triển thị trường vốn trong nước. Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Tài chính xây dựng để phê duyệt và triển khai Đề án phát triển mạnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp để tăng cường huy động vốn trong nước cho nền kinh tế, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phát triển thị trường cổ phiếu và trái phiếu Chính phủ trong nước.

Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của Phó Thủ tướng nhân dịp đầu xuân!

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.150 23.250 26.012 26.742 29.910 30.389 204,22 213,92
BIDV 23.150 23.250 25.984 26.712 29.914 30.394 204,75 209,80
VietinBank 23.147 23.257 25.988 26.723 29.877 30.517 204,83 211,33
Agribank 23.150 23.240 25.988 26.362 29.929 30.390 204,71 208,43
Eximbank 23.140 23.240 25.927 26.274 29.970 30.372 205,66 208,42
ACB 23.165 23.245 25.922 26.257 30.046 30.357 205,88 208,54
Sacombank 23.102 23.264 25.949 26.410 30.023 30.435 204,85 209,42
Techcombank 23.130 23.250 25.752 26.604 29.679 30.555 204,20 211,24
LienVietPostBank 23.140 23.240 25.937 26.394 30.038 30.458 205,04 208,74
DongA Bank 23.170 23.240 25.920 26.230 29.950 30.330 202,40 208,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.200
36.370
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.200
36.350
Vàng SJC 5c
36.200
36.370
Vàng nhẫn 9999
36.170
36.570
Vàng nữ trang 9999
35.750
36.350