14:48 | 10/01/2019

Vietcombank: Tăng trưởng tín dụng năm 2019 khoảng 15%

Sáng 10/1/2019, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tổ chức Hội nghị triển khai nhiệm vụ kinh doanh năm 2019. Tới dự và chỉ đạo hội nghị có Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Công đoàn Ngân hàng Việt Nam Đào Minh Tú.

Năm 2018, Vietcombank hoạt động với 3 trụ cột là bán lẻ, dịch vụ, kinh doanh vốn và đầu tư. Theo đó, tín dụng tăng trưởng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên; vốn huy động từ các nguồn giá rẻ tăng mạnh (vốn bán buôn) giúp ngân hàng giảm chi phí huy động vốn và gia tăng hiệu quả hoạt động.

Vietcombank cũng đi đầu về quản trị rủi ro khi là ngân hàng đầu tiên được áp dụng Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn, đã được Ngân hàng Nhà nước trao quyết định công nhận vào cuối tháng 11.

Nợ xấu của Ngân hàng ở mức thấp nhất từ trước tới nay và thấp nhất trong các tổ chức tín dụng Việt Nam, dưới 1%. Lợi nhuận trước thuế của ngân hàng đạt hơn 18.000 tỷ đồng.

Kế hoạch năm 2019, Ngân hàng sẽ tăng tổng tài sản thêm 12%, huy động vốn tăng 13%, tín dụng tăng 15%, nợ xấu dưới 1% và lợi nhuận tăng 12% tương đương trên 20.000 tỷ đồng.

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú chia sẻ năm 2018, việc điều hành các chính sách tiền tệ hợp lý, linh hoạt như chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá đã không những hỗ trợ doanh nghiệp phát triển mà còn nâng cao được năng lực tài chính của các ngân hàng; đảm bảo được tái cơ cấu cho hệ thống ngân hàng; tạo điều kiện cho các ngân hàng, doanh nghiệp, nền kinh tế phát triển.

Với giai đoạn sắp tới, Phó Thống đốc nhấn mạnh, Cách mạng công nghiệp 4.0 với thanh toán điện tử, thanh toán qua ngân hàng đang nở rộ, nếu không nhanh chóng thay đổi chúng ta sẽ tụt hậu và mất thị phần.

Năm 2019 được dự báo thanh toán điện tử sẽ là một trọng tâm lớn các ngân hàng cần chú ý để tận dụng cơ hội, chiếm lĩnh thị phần, song đi cùng với thanh toán điện tử sẽ là công tác an toàn trong thanh toán. Điều này đối với định hướng trở thành ngân hàng số của Vietcombank năm 2020 càng trở nên cấp thiết.

Cũng trong năm 2019 này, Ngân hàng Nhà nước xác định mức tăng trưởng tín dụng khoảng 14%. Điều này khẳng định rằng tín dụng năm 2019 trong quan điểm của cơ quan điều hành không phải trọng tâm là doanh số, là tăng trưởng dư nợ mà sâu xa hơn đây là cơ hội để các ngân hàng tái cơ cấu lại tín dụng, các nguồn đầu tư, là cơ hội để các ngân hàng xem xét lại các khoản nợ chất lượng xấu để điều chỉnh lại cơ cấu tín dụng.

Vì vậy, đề nghị các ngân hàng cần tiếp tục cải cách hành chính sâu rộng hơn, nhất là các vấn đề về thủ tục, điều kiện, hồ sơ vay vốn, phí, đưa nhiều sản phẩm và dịch vụ hiện đại ứng dụng công nghệ thông tin để tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn của ngân hàng.

Tại Hội nghị, Phó Thống đốc đã biểu dương những thành tích, sự cố gắng của tập thể cán bộ, nhân viên Vietcombank đã đạt được trong năm 2018. Phó thống đốc cũng đề nghị trong năm 2019 các ngân hàng cần đẩy mạnh công tác thẩm định, tăng cường công tác kiểm soát nâng cao an toàn, hiệu quả trong kinh doanh; xem xét việc thoái vốn ở những đơn vị làm ăn không hiệu quả; cần tăng cường hơn nữa về quy mô tài sản cho tương xứng với tầm vóc của ngân hàng; tăng cường hơn nữa đầu tư về công nghệ, đầu tư công nghệ ngân hàng lõi đồng thời phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, hiện đại trên nền tảng công nghệ mới song đi kèm với đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống đầu tư, nâng cấp công nghệ số hóa đảm bảo an toàn.

Riêng với Vietcombank, Phó Thống đốc yêu cầu Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tái cơ cấu và xử lý nợ xấu để hướng tới mục tiêu là ngân hàng top 100 trong khu vực, 300 trên thế giới và là ngân hàng hàng đầu của Việt Nam.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700