14:26 | 08/03/2019

VN- Index chưa thể chinh phục mốc 1.000 điểm

Thị trường chứng khoán rung lắc mạnh, VN-Index có tới 3 lần không vượt qua nổi ngưỡng 1.000 điểm. Cầu yếu trong khi lực bán ra mạnh lên khiến chỉ số giảm.

Với 200 mã giảm và 90 mã tăng, TTCK tiếp tục lỡ cơ hội chinh phục mốc 1.000 điểm. Nhóm cổ phiếu ngân hàng giảm giá, ngoại trừ EIB và KLB tăng giá. Trong đó, VCB, BID, TCB là những mã cổ phiếu ngân hàng tác động lớn nhất đến đà giảm của thị trường. 

Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) nhận định: Trong phiên cuối tuần, thị trường có diễn biến giằng co quanh ngưỡng tâm lý 1.000 điểm. Trong kịch bản tích cực, VN-Index vượt qua ngưỡng cản này, thì chỉ sẽ tiến vào vùng kháng cự mạnh tiếp theo nằm tại 1008-1025 điểm. Tuy nhiên, đà tăng của chỉ số có thể sẽ diễn ra với độ dốc thoải, kèm theo đó là sự phân hóa mạnh giữa các dòng cổ phiếu. 

Nhóm cổ phiếu ngân hàng và một vài cổ phiếu vốn hóa lớn dự kiến vẫn sẽ có diễn biến tích cực và đóng vai trò là động lực chính giúp giữ nhịp cho thị trường. Dự báo, trong phiên giao dịch cuối tuần, xu hướng của VN-Index có thể sẽ là tích lũy và giằng co trong biên độ 980-1.000 điểm để chờ cơ hội bứt phá khỏi ngưỡng 1.000 điểm trong tuần sau. 

Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) nhận định: "Thị trường lại tiếp tục có 1 phiên dao động giằng co dưới ngưỡng kháng cự 1000 điểm, khi tâm lý nhà đầu tư trong nước và thế giới vẫn đang chờ những tín hiệu mới của cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ - Trung Quốc và những thông tin hỗ trợ mới khác cho thị trường. Nhà đầu tư nên tiếp tục quan sát biến động kinh tế thế giới và trong nước để ra quyết định đầu tư, giảm dần tỷ trọng cổ phiếu trong danh mục".

Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) thì cho rằng: "VN-Index tỏ ra gặp khó khăn trong việc vượt qua kháng cự 1.000 điểm. Trong ngắn hạn, việc tìm kiếm lợi nhuận có thể không còn dễ dàng, và mức độ rủi ro đang dần tăng. Nhà đầu tư cân nhắc giảm tỷ trọng cổ phiếu trong danh mục, đặc biệt là những cổ phiếu có dấu hiệu kỹ thuật xấu".

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.300 25.832 26.688 28.723 29.183 212,25 222,10
BIDV 23.180 23.300 25.838 26.582 28.706 29.191 212,63 218,02
VietinBank 23.162 23.292 25.841 26.636 28.674 29.314 212,77 219,27
Agribank 23.185 23.280 25.821 26.217 28.726 29.201 212,65 216,53
Eximbank 23.170 23.280 25.848 26.205 28.823 29.221 213,80 216,76
ACB 23.165 23.285 25.853 26.209 28.840 29.164 213,62 216,56
Sacombank 23.132 23.290 25.855 26.312 28.791 29.201 212,83 217,37
Techcombank 23.160 23.300 25.615 26.475 28.492 29.362 212,08 219,36
LienVietPostBank 23.170 23.290 25.792 26.269 28.862 29.291 213,35 217,29
DongA Bank 23.190 23.280 25.860 26.200 28.800 29.200 210,00 216,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
39.470
39.740
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
39.470
39.720
Vàng SJC 5c
39.470
39.740
Vàng nhẫn 9999
39.370
39.820
Vàng nữ trang 9999
39.020
39.820