15:24 | 12/04/2018

WB: Cần tìm cách nâng cao tốc độ tăng trưởng tiềm năng

Khả năng căng thẳng thương mại leo thang, đòi hỏi phải thắt chặt hơn chính sách tiền tệ và lớp đệm ngân sách phải được tích lũy ở mức cao hơn là thông điệp đưa ra trong báo cáo Cập nhật Kinh tế Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới (WB) vừa công bố ngày 12/4/2018 tại Jakakta (Malaysia). 

Tăng chất cho tăng trưởng
ADB: Tăng trưởng 2018 có thể đạt 7,1% nếu không có cú sốc thương mại

WB đã dự báo tăng trưởng khu vực này sẽ đạt mức 6,3% trong năm 2018. Viễn cảnh kinh tế tiếp tục phục hồi trên toàn cầu và sức cầu trong nước mạnh sẽ giúp các quốc gia đang phát triển ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương có mức tăng trưởng mạnh.

Ảnh minh họa

Mặc dù viễn cảnh đang thuận lợi, nhưng cũng sẽ có những thách thức mới phát sinh và báo cáo cũng chỉ ra những rủi ro mới nổi liên quan tới ổn định và tăng trưởng bền vững đòi hỏi các quốc gia phải hết sức lưu tâm.

Các nhà hoạch định chính sách của khu vực cần quan tâm đến những rủi ro ngắn hạn liên quan đến lãi suất tăng nhanh hơn dự kiến ở các nền kinh tế tiên tiến và khả năng căng thẳng thương mại leo thang đòi hỏi phải thắt chặt hơn chính sách tiền tệ và lớp đệm ngân sách phải được tích lũy ở mức cao hơn.

“Mặc dù triển vọng tăng trưởng của khu vực được cho là tích cực, nhưng vẫn tồn tại những thách thức ngắn hạn và trung hạn đối với các nhà hoạch định chính sách”, ông Sudhir Shetty, Chuyên gia Kinh tế trưởng Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của WB nhìn nhận.

Những thách thức nhìn thấy trước mắt đó là khả năng tăng trưởng chững lại trên toàn khu vực trong trung hạn, là  nguy cơ vẫn tiếp diễn với hệ thống thương mại toàn cầu, các quốc gia đang phát triển khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, căng thẳng thương mại nhiều khả năng sẽ leo thang…

Để ứng phó với các thách thức này, các quốc gia cần tìm cách nâng cao tốc độ tăng trưởng tiềm năng trong dài hạn. Các chính sách này bao gồm một loạt các biện pháp: cải thiện chi tiêu công và đầu tư hạ tầng; tăng cường chiều sâu hội nhập thương mại và cải thiện về tạo thuận lợi thương mại; triển khai cải cách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh; và phát triển nguồn nhân lực.

Cần ứng phó bằng cách tăng cường chiều sâu hội nhập thương mại và tạo thuận lợi thương mại, thông qua các cơ chế như Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương, Sáng kiến Một vành đai và Một con đường. Nếu được thực hiện tốt, các sáng kiến đó sẽ càng trở nên quan trọng hơn khi các quốc gia điều chỉnh chiến lược phát triển dựa trên sản xuất của mình nhằm đối phó với những thách thức mới phát sinh về tự động hóa và công nghệ tiết kiệm lao động, làm mờ đi ranh giới giữa sản xuất và dịch vụ.

“Các nhà hoạch định chính sách cần chú trọng xử lý những rủi ro về ổn định kinh tế đồng thời tiến hành các bước nhằm nâng cao tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn”, bà Victoria Kwakwa, Phó chủ tịch WB phụ trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương phát biểu. 

Tăng trưởng mạnh là động lực để khu vực đạt những thành tựu to lớn về giảm nghèo cùng cực. Để phát huy thành tựu đó và cải thiện tương lai cho một bộ phận dân chúng lớn hơn còn chưa được đảm bảo an ninh kinh tế, đòi hỏi cần phải duy trì tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Xử lý những thách thức đó đòi hỏi các biện pháp nhằm giảm tác động có thể xảy ra do tiến trình thắt chặt chính sách tiền tệ diễn ra nhanh hơn ở các nền kinh tế tiên tiến đồng thời phải nâng cao tiềm năng tăng trưởng dài hạn trong điều kiện chính sách bất ổn, đặc biệt về thương mại toàn cầu. Để thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn, đẩy mạnh đầu tư công và đầu tư tư nhân, tăng trưởng năng suất và nguồn nhân lực là then chốt. 

Để xử lý những rủi ro về ổn định kinh tế vĩ mô, các quốc gia cần cân nhắc thắt chặt chính sách tiền tệ và tiếp tục tăng cường hơn nữa chính sách quản lý vĩ mô.  Điều này đặc biệt quan trọng ở các quốc gia có mức dư nợ cao hoặc tốc độ tăng trưởng tín dụng cao có thể làm trầm trọng thêm nguy cơ dễ tổn thương đối với khu vực tài chính khi lãi suất tăng cao ở các nền kinh tế tiên tiến.

Cải thiện năng lực cạnh tranh cũng là vấn đề quan trọng đối với các quốc gia trong khu vực trong quá trình tìm cách điều chỉnh theo những thay đổi đang diễn ra trong bối cảnh sản xuất có sự tiến triển của công nghệ. Nhiều yếu tố khác của môi trường kinh doanh sẽ trở nên quan trọng hơn so với chi phí lao động để tạo ra vận may của quốc gia trong lĩnh vực sản xuất. 

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,30
6,40
6,50
BIDV
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,30
4,30
4,80
5,30
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,20
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,80
4,80
4,90
6,00
6,10
6,70
6,70
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
5,00
4,50
5,20
6,20
5,70
7,10
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.735 22.805 27.564 27.893 31.343 31.845 206,32 210,25
BIDV 22.735 22.805 27.598 27.918 31.399 31.865 207,09 210,15
VietinBank 22.723 22.803 27.505 27.883 32.311 31.871 206,79 210,19
Agribank 22.735 22.810 27.728 28.057 31.586 32.020 208,88 212,15
Eximbank 22.720 22.810 27.581 27.940 31.490 31.900 207,77 210,47
ACB 22.740 22.810 27.562 27.908 31.552 31.868 207,67 210,28
Sacombank 22.735 22.817 27.606 27.961 31.548 31.903 207,67 210,71
Techcombank 22.710 22.805 27.315 28.043 31.124 31.976 206,21 211,70
LienVietPostBank 22.720 22.820 27.527 27.988 31.521 31.945 207,37 211,00
DongA Bank 22.740 22.810 27.610 27.920 31.500 31.880 206,30 210,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.550
36.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.550
36.750
Vàng SJC 5c
36.550
36.770
Vàng nhẫn 9999
36.600
37.000
Vàng nữ trang 9999
36.200
36.800