13:23 | 03/12/2014

Xử lý nợ xấu: Hiệu quả của hướng đi đúng

Nợ xấu là vấn đề của nền kinh tế đòi hỏi cần có sự tham gia, hỗ trợ tích cực của các cơ quan, bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, đặc biệt trong việc phục hồi, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, xử lý hàng tồn kho, xử lý nợ trong xây dựng cơ bản, thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng, tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản,...

Từ cuối năm 2008, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và những khó khăn, tồn tại tích tụ từ lâu của nền kinh tế trong nước, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, kéo theo những tác động tiêu cực đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng, chất lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng. Nợ xấu gia tăng tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô, điều hành chính sách tiền tệ và phát triển kinh tế cũng như an toàn hoạt động ngân hàng.

Xác định việc xử lý nợ xấu của các TCTD là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng, góp phần thực hiện thành công mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các TCTD, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống đến năm 2020, NHNN đã xây dựng và trình Bộ Chính trị, Chính phủ phê duyệt Đề án ”Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” và Đề án ”Thành lập Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam”.


Ảnh minh họa

Trên cơ sở đánh giá thực trạng nợ xấu và nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, Đề án xử lý nợ xấu đưa ra 5 nhóm giải pháp tổng thể xử lý nợ xấu và phòng ngừa, hạn chế nợ xấu gia tăng trong tương lai cần triển khai từ nay đến năm 2015, gồm: nhóm giải pháp đối với TCTD, nhóm giải pháp đối với khách hàng của TCTD, nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, nhóm giải pháp về thanh tra, giám sát và giải pháp thành lập VAMC; với sự tham gia rộng rãi của hệ thống các TCTD, khách hàng vay vốn và các cấp, các ngành, chính quyền các địa phương.

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 843/QĐ-TTg phê duyệt 02 Đề án nêu trên, nhiều giải pháp đã được triển khai khẩn trương, đồng bộ, như cơ cấu lại nợ, thu nợ, xử lý tài sản bảo đảm, bán nợ, sử dụng dự phòng rủi ro, tiết giảm chi phí, hạn chế tăng lương, thưởng, thù lao, chia cổ tức, lợi nhuận để tập trung trích lập dự phòng rủi ro, bán nợ xấu cho VAMC.

Nếu tính cả số nợ xấu VAMC duyệt mua trong tháng 10/2014 cùng với số nợ xấu xử lý trong năm 2012 (69,9 nghìn tỷ đồng), 2013 (97,7 nghìn tỷ đồng) và 9 tháng đầu năm 2014 (72,84 nghìn tỷ đồng) thì tổng số nợ xấu đã xử lý ước khoảng 252 nghìn tỷ đồng, bằng 54,3% tổng số nợ xấu ước tính tại thời điểm tháng 9/2012 đã được NHNN báo cáo với Bộ Chính trị và Chính phủ khi xây dựng Đề án xử lý nợ xấu.

Điều đó cho thấy những giải pháp xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng trong thời gian vừa qua đã đem lại kết tích cực: nợ xấu đã được xử lý một bước, tốc độ tăng nợ xấu chậm lại, doanh nghiệp tiếp tục được vay vốn ngân hàng với lãi suất thấp hơn để phát triển sản xuất kinh doanh. Đây là các giải pháp thực sự có ý nghĩa đối với cả doanh nghiệp và ngân hàng.

Như vậy, nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã được NHNN xác định đúng bản chất và các giải pháp xử lý nợ xấu đề ra tại Quyết định 843 là hoàn toàn phù hợp. Kết quả xử lý nợ xấu đạt được đến nay tiếp tục ghi nhận sự cố gắng của hệ thống các TCTD, nhất là trong điều kiện không có sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước; cơ chế, chính sách còn nhiều hạn chế, bất cập và nền kinh tế còn nhiều khó khăn.

Điều này cũng thể hiện các giải pháp xử lý nợ xấu được ngành Ngân hàng triển khai quyết liệt, có hiệu quả. Mô hình hoạt động của VAMC chưa từng có tiền lệ bước đầu phát huy hiệu quả tích cực trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD và hỗ trợ khó khăn cho khách hàng, khẳng định tính đúng đắn của việc lựa chọn công cụ này trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD.

Tuy nhiên, chỉ với những cố gắng của ngành Ngân hàng trong xử lý nợ xấu là chưa đủ bởi vì nợ xấu là vấn đề của nền kinh tế đòi hỏi cần có sự tham gia, hỗ trợ tích cực của các cơ quan, bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, đặc biệt trong việc phục hồi, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, xử lý hàng tồn kho, xử lý nợ trong xây dựng cơ bản, thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng, tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản,... Nếu các giải pháp nêu trên không được triển khai đồng bộ thì việc xử lý nợ xấu không triệt để và không đạt kết quả như mong muốn.

Từ kết quả xử lý nợ xấu đạt được cùng với việc tiếp tục quyết liệt triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng và sự phối hợp đồng bộ, tích cực của các Bộ ngành, địa phương, chúng ta có thể tin tưởng rằng nợ xấu sẽ được đưa về mức an toàn đến cuối năm 2015 như mục tiêu đã đề ra.

Theo SBV

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590