13:47 | 08/08/2018

Xuất nhập khẩu giảm tốc và nỗi lo nhập siêu kéo dài

Trong bối cảnh cả xuất khẩu và nhập khẩu đều giảm tốc, nhập siêu đã quay trở lại do lượng xuất siêu của khối FDI giảm trong khi nhập siêu của khối trong nước vẫn đứng ở mức cao. 

Doanh nghiệp thủy sản tìm thị trường xuất khẩu mới
Cà phê Việt và mục tiêu 6 tỷ USD
38% kim ngạch xuất khẩu sang thị trường FTA sử dụng C/O ưu đãi

Xuất khẩu giảm tốc vì điện thoại, điện tử

Xuất khẩu tháng 7 chỉ tăng 10,5% đã kéo tăng trưởng xuất khẩu 7 tháng xuống 15,3% so với cùng kỳ, mức thấp nhất 16 tháng. Với khối trong nước duy trì được tốc độ tăng trưởng cao (18,7%) thì khối FDI đã tăng chậm lại rõ rệt, xuống chỉ còn 14,9%, cũng là mức thấp nhất 16 tháng. Khối FDI chiếm tỷ trọng xuất khẩu lớn (khoảng 70%), nên sự giảm tốc của khối này là nguyên nhân chính kéo giảm tăng trưởng xuất khẩu chung.

Hiện đa phần các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam đều do khối FDI chi phối như điện thoại, điện tử, máy móc thiết bị hay dệt may, giày dép. Trong đó, điện thoại là mặt hàng quan trọng, chiếm tới 1/5 tổng xuất khẩu cũng như GDP của Việt Nam nên xuất khẩu điện thoại giảm tốc nhanh chắc chắn sẽ có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, sau một giai đoạn tăng trưởng rất ấn tượng, xuất khẩu điện thoại đột ngột chậm lại từ quý II mà nguyên nhân chính là do Samsung giảm sản lượng.

“Lý do Samsung giảm sản lượng tại Việt Nam không được công bố nhưng đây có thể là sự thay đổi có tính chiến lược khi Samsung vừa khánh thành nhà máy lắp ráp điện thoại lớn tại Ấn Độ”, báo cáo Việt Nam Trade Monitor của Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) ngày 6/8 nhận định.

Bên cạnh đó, dù cũng giảm tốc như điện thoại nhưng xuất khẩu điện tử không gây bất ngờ bởi xu hướng này đã bắt đầu từ năm 2017 khi cả Samsung và LG đều phải tính đến việc mở nhà máy tại Mỹ sau các sức ép của chính quyền Tổng thống Donald Trump. Như trước cuộc gặp giữa Tổng thống Hàn Quốc và Tổng thống Mỹ vào giữa năm 2017, Samsung đã tuyên bố kế hoạch đầu tư 380 triệu USD xây dựng nhà máy sản xuất máy giặt và đồ điện tử tại Mỹ. Quý II/2018, đà giảm của xuất khẩu điện tử đã có phần chững lại, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng đứng ở mức thấp, chỉ 13,8%.

Trong khi xuất khẩu máy móc, thiết bị của khối FDI chưa chịu nhiều sức ép như điện thoại, điện tử. Tăng trưởng duy trì đều đặn ở mức cao và tính chung 6 tháng, xuất khẩu máy móc thiết bị của khối FDI đã đạt 7 tỷ USD, tăng 31,7%. Tương tự, xuất khẩu máy ảnh, máy quay phim đạt 2 tỷ USD, tăng 35% so với cùng kỳ. Xuất khẩu hàng dệt may là điểm sáng của khối FDI với tốc độ tăng trưởng ổn định ở mức 16%, gấp đôi so với cùng kỳ. Trong khi xuất khẩu giày dép có phần đuối hơn khi giảm xuống mức 8-9%.

Lo ở thế nhập siêu lâu dài

Cùng với đà giảm của xuất khẩu, nhập khẩu cũng có xu hướng giảm khi hàng loạt các mặt hàng nhập khẩu là đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu sụt giảm mạnh. Tăng trưởng nhập khẩu của khối FDI ở những mặt hàng chính đều thấp hơn rõ rệt so với khối trong nước. Trong đó máy móc, linh kiện điện thoại, nguyên phụ liệu dệt may và da giày đã ghi nhận tăng trưởng âm trong 6 tháng đầu năm.

Trong bối cảnh cả xuất khẩu và nhập khẩu đều giảm tốc, nhập siêu đã quay trở lại do lượng xuất siêu của khối FDI giảm trong khi nhập siêu của khối trong nước vẫn đứng ở mức cao. Theo đó, xuất siêu của khối FDI trong tháng 7 là 2 tỷ USD, thấp hơn mức trung bình 6 tháng đầu năm là 2,6 tỷ USD, trong khi nhập siêu của khối trong nước là 2,3 tỷ USD, cao hơn trung bình 6 tháng là 2 tỷ USD.

Khối FDI nhìn chung nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu nên duy trì được giá trị xuất siêu trong thời gian dài. Do đó khi xuất khẩu giảm thì giá trị xuất siêu của khối FDI cũng giảm. Ngược lại với khối trong nước, ngoài việc nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu thì phần lớn hàng nhập khẩu để sản xuất và tiêu dùng trong nước, vì vậy khối trong nước luôn nhập siêu.

Hệ quả là khi xuất khẩu của khối FDI giảm sút, cán cân thương mại sẽ nghiêng dần về phía nhập siêu. Xuất siêu của 7 tháng đầu năm 2018 là 3 tỷ USD, trong đó phần lớn đến từ kết quả của quý I. Với những diễn biến mới trong quý II, giá trị xuất siêu này sẽ giảm dần và có thể sẽ không còn xuất siêu khi hết năm 2018.

“Từ các số liệu xuất nhập khẩu 7 tháng đầu năm, có lý do để chúng ta phải đề phòng với những rủi ro mới phát sinh. Đó là sự tăng trưởng chậm lại của khối FDI mà nòng cốt là các mặt hàng điện thoại, điện tử và sự thu hẹp của thị trường Trung Quốc. Nhập siêu đã quay trở lại và có thể còn kéo dài cho đến khi Việt Nam tìm được động lực thúc đẩy xuất khẩu mới và/hoặc nguồn cung trong nước đủ sức thay thế hàng nhập khẩu”, ông Nguyễn Đức Hùng Linh - Giám đốc Phân tích & Tư vấn đầu tư khách hàng cá nhân thuộc SSI dự báo.

Theo báo cáo Việt Nam Trade Monitor, biện pháp trước mắt khi không thể thúc đẩy xuất khẩu là hạn chế nhập khẩu thông qua các hàng rào kỹ thuật và hàng rào thuế quan (như thuế tự vệ đối với thép).

Xuất khẩu sang Trung Quốc giảm tốc

Sau 2 năm tăng trưởng ngoạn mục, xuất khẩu sang Trung Quốc đã giảm tốc. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam với giá trị xuất khẩu gấp đôi Nhật Bản nên sự giảm tốc của thị trường Trung Quốc có ảnh hưởng trọng yếu đến tăng trưởng xuất khẩu chung. So với các thị trường quan trọng khác của Việt Nam như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc… thị trường Trung Quốc và Hồng Kông giảm tốc rõ rệt với tăng trưởng xuất khẩu 6 tháng lần lượt là 28% và 9% trong khi cả năm 2017 đạt các con số tương ứng là 62% và 24%. Hồng Kông có thể coi là một cửa ngõ vào Trung Quốc nên cũng phản ánh nhu cầu của thị trường Trung Quốc.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,70
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,60
5,50
5,50
6,40
6,40
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
4,60
5,10
5,50
6,70
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.265 23.345 26.319 26.633 29.294 29.763 205,97 212,43
BIDV 23.260 23.340 26.320 26.635 29.307 29.758 207,93 211,08
VietinBank 23.233 23.323 26.252 26.630 29.230 29.790 207,71 211,11
Agribank 23.265 23.350 26.299 26.631 29.330 29.760 207,86 211,65
Eximbank 23.240 23.340 26.305 26.657 29.398 29.790 208,52 211,32
ACB 23.260 23.340 26.322 26.661 29.497 29.802 208,59 211,28
Sacombank 23.270 23.362 26.370 26.724 29.491 29.858 208,69 211,78
Techcombank 23.250 23.350 26.098 26.856 29.111 29.925 207,24 212,59
LienVietPostBank 23.250 23.350 26.238 26.700 29.440 29.849 208,17 211,87
DongA Bank 23.305 23.350 26.340 26.640 29.410 29.770 207,20 211,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.550
36.750
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.550
36.730
Vàng SJC 5c
36.550
36.750
Vàng nhẫn 9999
34.250
34.650
Vàng nữ trang 9999
33.800
34.600