09:41 | 20/03/2019

Yếu thương hiệu nên thiếu sức cạnh tranh

Có tới 70 – 80% sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu không mang thương hiệu của DN Việt Nam, khiến giá trị bị suy giảm rất nhiều.

Định giá thương hiệu
Thay đổi tư duy về xây dựng thương hiệu

Chưa có vị thế

Cà phê là sản phẩm quốc gia và là một trong 10 mặt hàng chủ lực của Việt Nam thuộc nhóm nông sản có kim ngạch xuất khẩu (XK) cao nhất với trên 3 tỷ USD. XK cà phê của Việt Nam đứng thứ 2 thế giới nhưng trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu, phần đóng góp của cà phê Việt Nam rất khiêm tốn, chỉ dưới 10%.

Xây dựng thương hiệu nông sản để gia tăng giá trị XK

Nguyên nhân do là đa phần sản phẩm cà phê Việt là xuất thô và chưa có thương hiệu. Trung bình, một kg cà phê thô XK có giá chưa đến 2 USD, trong khi đó, cà phê đã qua chế biến và có thương hiệu có giá tầm 20 USD; còn nếu được chế biến thành thức uống bán trong các quán cà phê hay các lon, chai cà phê pha sẵn có nhãn hiệu, giá có thể lên gấp 100 lần. Bên cạnh đó, có một thực tế đáng buồn là, hiện cà phê Việt Nam chiếm đến 90% kim ngạch nhập khẩu sản phẩm này của Hàn Quốc nhưng người tiêu dùng Hàn Quốc không hề biết điều này.

Tương tự, đối với mặt hàng chè. Là 1 trong 5 nước XK chè nhiều nhất trên thế giới, nhưng thương hiệu chè Việt Nam còn khá mờ nhạt, chưa có chỗ đứng trên thị trường thế giới. Theo ông Ramaz Chanturiya, Chủ tịch Hiệp hội chè Nga cho biết, Nga là quốc gia nhập khẩu chè lớn nhất thế giới, trong đó, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 4 trong việc XK chè sang thị trường này với khoảng 9 nghìn tấn, chiếm 11%. Thế nhưng, giá trị chè Việt Nam XK sang Nga đang còn thấp, vì chè Việt Nam chưa có ấn tượng đặc biệt tại đây.

PGS.TS. Nguyễn Quốc Thịnh – Chủ tịch Hội đồng tư vấn, Viện Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh cho biết, khoảng 70-80% nông sản của Việt Nam XK không được mang thương hiệu của các DN Việt Nam. Tỷ lệ nông sản XK thô, hoặc sơ chế chiếm chủ yếu. Điều này khiến vị thế của DN Việt Nam trên thị trường chưa cao, chưa tiếp cận được hệ thống phân phối tại nước ngoài.

Đứng số một thế giới về XK dòng cà phê robusta, hồ tiêu và điều, thứ ba về cao su, gạo..., tuy nhiên ít có thương hiệu nông sản Việt nào đủ sức lan tỏa đến người tiêu dùng toàn cầu.

TS. Võ Trí Thành - nguyên Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW nhìn nhận, mặc dù XK của Việt Nam tăng trưởng mạnh trong những năm qua nhưng việc nhìn nhận về thương hiệu của các DN vẫn còn nhiều hạn chế và hình ảnh về sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế còn khá mờ nhạt.

Giá trị phải gắn liền với thương hiệu

Phát triển thương hiệu cho nông sản được nhìn nhận như là giải pháp giúp thúc đẩy và gia tăng giá trị nông sản XK. Tuy vậy, PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh cho hay, cách hiểu và cách làm thì cần phải trao đổi nhiều hơn nữa.

Theo ông Thịnh, việc xây dựng thương hiệu cho nông sản XK chính là quá trình tạo dựng niềm tin, tạo dựng uy tín cho nông sản của Việt Nam. Đây mới là mấu chốt và đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức.

Trong việc xây dựng thương hiệu cho nông sản XK, cần xác định rõ chủ thể là ai. Ở Việt Nam đang có ba dạng: DN trực tiếp chế biến và cung ứng XK; các tổ chức tập thể, ngành hàng (hiệp hội, HTX); cuối cùng là chủ sở hữu của nhãn hiệu chứng nhận. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng trực tiếp ở chủ thể này để phát triển thương hiệu sẽ rất hạn chế, cần sự tham gia của các chủ thể khác như hộ sản xuất, chính quyền địa phương, các cơ quan chứng thực, giám sát… ông Thịnh nói thêm.

Đồng quan điểm về vấn đề này, đại diện Công ty Vinacafe Biên Hòa cho rằng, bất kỳ sản phẩm nào chỉ mang lại giá trị khi có thương hiệu, tuy nhiên, đây là việc làm đồng bộ, không chỉ của riêng DN.

Để phát triển thương hiệu chè Việt Nam tại thị trường Nga, ông Ramaz Chanturiya cũng khuyến cáo Việt Nam nên có những thay đổi mới về hình ảnh của sản phẩm, phải tạo được những nét đặc trưng khác biệt. Cùng với đó, cũng cần có sự quan tâm đầu tư lâu dài như xây dựng các nông trang, công ty lớn…

Với tiến trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, nông sản Việt Nam đang hướng tới chuỗi giá trị toàn cầu, các chuyên gia cho rằng, rất cần có một chiến lược dài hơi để tạo dựng thương hiệu cho những mặt hàng chủ lực để thật sự trở thành một giá trị của nông sản XK.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.145 23.265 25.481 26.325 28.081 28.531 210,40 218,69
BIDV 23.145 23.265 25.491 26.225 28.091 28.569 215,20 220,68
VietinBank 23.126 23.256 25.452 26.247 27.997 28.637 214,75 220,75
Agribank 23.145 23.250 25.490 25.882 27.825 28.291 214,99 218,94
Eximbank 23.140 23.250 25.495 25.847 28.173 28.563 216,11 219,10
ACB 23.130 23.250 25.487 25.838 28.243 28.560 215,98 218,96
Sacombank 23.097 23.257 25.488 25.941 28.191 28.593 215,13 219,69
Techcombank 23.130 23.270 25.252 26.246 27.856 28.756 214,41 221,68
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.433 26.960 28.204 28.623 215,60 219,60
DongA Bank 23.160 23.250 25.510 25.830 28.170 28.540 212,60 218,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.400
41.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.400
41.700
Vàng SJC 5c
41.400
41.720
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.850
Vàng nữ trang 9999
41.000
41.700