11 tháng, giải ngân vốn FDI đạt 17,2 tỷ USD

09:29 | 02/12/2020

Trong 11 tháng năm 2020, cả vốn đăng ký và giải ngân FDI đều giảm so với cùng kỳ, tuy nhiên hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng trở lại, cho thấy sự phục hồi của lĩnh vực sản xuất, theo thông tin từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Cụ thể, tính tới 20/11/2020, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 17,2 tỷ USD, giảm nhẹ 2,4% so với cùng kỳ năm 2019.

“Do tác động của đại dịch Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng, vốn đầu tư thực hiện của các dự án đầu tư nước ngoài trong 11 tháng tuy vẫn giảm so với cùng kỳ song mức độ giảm đã được cải thiện”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhìn nhận.

11 thang giai ngan von fdi dat 172 ty usd

Tuy nhiên, vốn FDI đăng ký trong 11 tháng đã giảm khá mạnh so với cùng kỳ, cũng tính đến 20/11/2020, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 26,43 tỷ USD, giảm tới 16,9% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong đó, có 2.313 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 13,6 tỷ USD, giảm mạnh 33,5% về số dự án và giảm 7,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2019; có 1.051 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt trên 6,3 tỷ USD, giảm 16,3% về lượt dự án nhưng tăng 7,8% về vốn đăng ký so với cùng kỳ; có 5.812 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp 6,5 tỷ USD, giảm 32,1% về số lượt góp vốn mua cổ phần và giảm 41,8% về vốn góp so với cùng kỳ.

“Cơ cấu giá trị góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong tổng vốn đầu tư giảm so với cùng kỳ năm 2019, từ 35,4% trong 11 tháng năm 2019 xuống 24,7% trong 11 tháng năm 2020”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lưu ý thêm.

Như vậy, số dự án mới, điều chỉnh vốn và cả số lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đều giảm so với cùng kỳ, tuy nhiên mức độ giảm cũng đang được cải thiện, vốn đầu tư điều chỉnh cũng tăng 7,8% so với cùng kỳ.

“Xét trong bối cảnh đầu tư toàn cầu suy giảm rất mạnh do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 thì kết quả này tốt hơn nhiều quốc gia khác, thể hiện sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt giới đầu tư quốc tế”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhìn nhận.

Lũy kế đến ngày 20/11/2020, cả nước có 32.915 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 382,9 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 229,1 tỷ USD, bằng 59,8% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành, lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 12,7 tỷ USD, chiếm 48,2% tổng vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 4,9 tỷ USD, chiếm 18,7% tổng vốn đầu tư đăng ký; tiếp theo lần lượt là các lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản, bán buôn bán lẻ với tổng vốn đăng ký gần 3,8 tỷ USD và 1,5 tỷ USD...

Đã có 109 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 11 tháng, trong đó Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư gần 8,1 tỷ USD, chiếm 30,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,7 tỷ USD, chiếm 14 % tổng vốn đầu tư; Trung Quốc đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 2,4 tỷ USD, chiếm 9,1% tổng vốn đầu tư; tiếp theo là Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan…

Nếu xét theo số lượng dự án mới thì Hàn Quốc đứng vị trí thứ nhất với 573 dự án; Trung Quốc đứng vị trí thứ hai với 311 dự án; Nhật Bản đứng thứ ba với 251 dự án; Hồng Kông (Trung Quốc) đứng thứ tư với 164 dự án…

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 60 tỉnh, thành phố trên cả nước trong 11 tháng, trong đó Bạc Liêu vẫn tiếp tục dẫn đầu với 1 dự án lớn có vốn đầu tư 4 tỷ USD, chiếm 15,1% tổng vốn đầu tư đăng ký; TP. Hồ Chí Minh đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký đạt trên 3,8 tỷ USD, chiếm 14,4% tổng vốn đầu tư (trong đó đầu tư theo phương thức góp vốn mua cổ phần chiếm tỷ trọng 74,4% tổng vốn đầu tư vào thành phố); Hà Nội đứng thứ ba với 3,2 tỷ USD, chiếm 12,2% tổng vốn đầu tư (trong đó vốn đầu tư tập trung nhiều vào phương thức mở rộng dự án hiện có và góp vốn mua cổ phần, chiếm lần lượt 39,2% và 40,1% tổng vốn đầu tư đăng ký của Hà Nội); tiếp theo lần lượt là Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Hải Phòng…

Nếu xét theo số lượng dự án mới thì TP. Hồ Chí Minh dẫn đầu với 865 dự án; Hà Nội đứng thứ hai với 470 dự án; Bắc Ninh đứng thứ ba với 136 dự án...

“Hiện vẫn có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, tin tưởng và có nhu cầu đầu tư vào Việt Nam. Nhưng do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, việc đi lại của các nhà đầu tư cũng như các quyết định đầu tư mới và mở rộng quy mô dự án đầu tư nước ngoài tiếp tục bị ảnh hưởng”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết.

Về góc độ sản xuất, xuất khẩu, nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang dần hồi phục, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, tạo đà cho bước tăng trưởng nhanh hơn trong những tháng cuối năm 2020.

Theo đó, kim ngạch xuất khẩu kể cả dầu thô 11 tháng đạt gần 181 tỷ USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ, chiếm 71,3% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; không kể dầu thô đạt 179,5 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 70,7% kim ngạch xuất khẩu cả nước trong 11 tháng năm 2020.

"Kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng trở lại sau khi giảm liên tiếp trong 10 tháng", Bộ Kế hoạch và Đầu tư lưu ý thêm.

Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu 11 tháng của khu vực đầu tư nước ngoài đạt 148,9 tỷ USD, tăng 9,1% so cùng kỳ và chiếm 63,5% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

Tính chung trong 11 tháng năm 2020, khu vực đầu tư nước ngoài xuất siêu 32,5 tỷ USD nếu kể cả dầu thô, bù đắp phần nhập siêu 12,4 tỷ USD của khu vực trong nước, giúp cả nước xuất siêu 20,1 tỷ USD.

PL

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.960 23.170 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.980 23.180 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.970 23.180 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.973 23.185 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.969 23.169 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.980 23.160 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.000 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.460
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.460
55.830
Vàng SJC 5c
55.460
55.830
Vàng nhẫn 9999
52.730
53.330
Vàng nữ trang 9999
52.330
53.030