2020 sẽ là năm của các thị trường mới nổi?

12:00 | 21/11/2019

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang có dấu hiệu dịu lại, các nhà quản lý quỹ thấy nhiều lý do hơn để đầu tư tiền của họ vào các thị trường mới nổi.

Theo các nhà phân tích, trong khi các nhà hoạch định chính sách tại Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (NHTW) dường như đang cố giữ ổn định lãi suất thì nhiều đối tác của họ tại các quốc gia đang phát triển, từ Ấn Độ đến Brazil, vẫn có thể cắt giảm thêm lãi suất. Điều đó sẽ hỗ trợ nền kinh tế thế giới vốn đang tăng trưởng với tốc độ yếu nhất trong một thập kỷ.

“Trong hầu hết các trường hợp, các thị trường mới nổi hiện đang ở trong tình trạng khá thoải mái với việc nới lỏng tiền tệ để ngừng chặn suy thoái kinh tế”, Ulrich Leuchtmann – Trưởng bộ phận chiến lược tiền tệ tại Commerzbank AG ở Frankfurt cho biết trong một báo cáo vừa được công bố mới đây. “Việc nới lỏng chính sách tiền tệ này có khả năng sẽ nâng đỡ cho các nền kinh tế mới nổi, và điều này cũng sẽ có lợi cho các nước phát triển”.

Triển vọng đó đã được nhấn mạnh trong tuần này bởi các nhà kinh tế của Morgan Stanley, định chế đã dự đoán các thị trường mới nổi sẽ tăng trưởng 4,4% trong năm tới, gấp hơn 3 lần so với tốc độ tăng trưởng 1,3% của nhóm 10 nền kinh tế phát triển.

Sau khi 20 trong số 32 ngân hàng trung ương mà Morgan Stanley theo dõi đã nới lỏng chính sách kể từ đầu năm 2019 đến nay; các nhà kinh tế của định chế này dự báo 13 ngân hàng trung ương sẽ làm như vậy vào năm 2020 với việc cắt giảm tập trung ở các thị trường mới nổi, qua đó giúp giảm lãi suất chính sách trung bình toàn cầu xuống mức thấp nhất 7 năm vào tháng 3/2020. Ấn Độ, Brazil, Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ đều có thể cắt giảm lãi suất nếu họ thấy cần thiết.

Hàn Quốc và Brazil là một trong số những quốc gia mà lãi suất được dự báo có nhiều khả năng bị cắt giảm nhiều nhất, trong khi những nước khác như Trung Quốc và Thái Lan đang tỏ ra thận trọng hơn trong việc nới lỏng hơn nữa chính sách. Trong khi theo phân tích của nhà kinh tế Ấn Độ Abhishek Gupta của Bloomberg Economics, điều kiện kinh tế ở Ấn Độ có thể sẽ thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách sử dụng không gian mà họ có để cắt giảm lãi suất nhiều hơn.

Nguyên nhân do lãi suất thực, hay lãi suất chuẩn của ngân hàng trung ương trừ đi lạm phát giá tiêu dùng, cũng tương đối lành mạnh ở các thị trường mới nổi so với lợi suất thực âm tại một loạt các nền kinh tế phát triển lớn. Trong khi đó các nền kinh tế phát triển có rất ít dư địa để cắt giảm lãi suất so với các đối tác ở thị trường mới nổi khi mà khi mà tại nhiều nền kinh tế phát triển lãi suất thực đang âm.

“Lãi suất thực đang ở mức dương khá lớn và vẫn có dư địa để giảm thêm ở châu Á và hầu hết các thị trường mới nổi”, Teresa Kong - một nhà quản lý danh mục đầu tư của Matthews Asia cho biết.

Lạm phát cao từ lâu đã trở thành một căn bệnh mãn tính của các thị trường mới nổi, mặc dù hiện tại nó đã dịu đi ở nhiều nền kinh tế, qua đó hỗ trợ cho khả năng chi tiêu của các hộ gia đình cũng như tạo thêm dư địa cắt giảm lãi suất cho các ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế này.

Ví dụ như Philippines, sự phục hồi mạnh mẽ của lạm phát vào năm ngoái đã gây ra nhiều nỗi lo, song đã dịu lại trong năm nay. Điều đó khiến cho lãi suất thực của Philippines đang ở mức 3,2%, tức có dư địa để cắt giảm ngay cả khi Thống đốc ngân hàng trung ương nước này nói rằng họ sẽ trì hoãn động thái này trong phần còn lại của năm 2019.

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đang có dấu hiệu dịu lại, các nhà quản lý quỹ thấy nhiều lý do hơn để đầu tư tiền của họ vào các thị trường mới nổi. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng coi các nền kinh tế mới nổi là động lực chính của kinh tế toàn cầu, trong khi các nền kinh tế tiên tiến chỉ được dự báo tăng trưởng dưới 3%.

Theo Kunal Ghosh - một nhà quản lý danh mục đầu tư của Allianz Global Investors, nếu cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung dịu lại có thể thúc đẩy sự lạc quan tại các thị trường mới nổi tăng cao. “Có thể định hướng năm 2020 là một năm tốt cho các thị trường mới nổi”, ông nói.

Ngọc Mai

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000