3 lý do khiến hóa đơn điện tháng 4/2019 tăng

10:45 | 08/05/2019

Bộ Công Thường vừa dẫn thông tin từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) giải thích nguyên nhân hoá đơn tiền điện tăng cao ở nhiều hộ gia đình mà theo nhiều phản ánh trên mạng xã hội có hộ gia đình trong tháng 4/2019 tăng tới 75% so với tháng trước đó. Cơ quan này cho biết nguyên nhân chính khiến hóa đơn tiền điện tăng trong tháng vừa qua là do… thời tiết.

Thủ tướng yêu cầu kiểm tra việc điều chỉnh giá điện
Lạm phát và ẩn số điện, xăng
Giá điện và chính sách tiền tệ
Giá điện tăng, người dân phải trả thêm bao tiền?

Nắng nóng khiến tiêu dùng điện tăng khoảng 16% 

Theo giải thích của EVN, có 3 nguyên nhân khiến cho hóa đơn tiền điện tháng 4/2019 tăng mạnh so với tháng trước: nắng nóng khiến tiêu dùng điện tăng, điều chỉnh tăng giá điện và số ngày sử dụng điện tăng. Trong đó, nguyên nhân thời tiết có tác động nhiều nhất.

Cụ thể, do tháng 4/2019 rơi vào giai đoạn thời tiết chuyển sang nắng nóng tại khu vực miền Nam, Tây Nguyên, nhiệt độ nhiều thời điểm lên hơn 37 độ C; khu vực miền Bắc mà đặc biệt là Thủ đô Hà Nội cũng bước vào giai đoạn thời tiết nồm với độ ẩm cao, có ngày nắng nóng lên đến 37 độ C, nên nhu cầu sử dụng điện của khách hàng cho cho các thiết bị giải nhiệt, hút ẩm, đặc biệt là thiết bị làm lạnh tăng cao.

Tại TP. Hà Nội, EVN cho biết mức tiêu thụ điện tăng từ 47 triệu kWh/ngày cuối tháng 3/2019 lên đến gần 58 triệu kWh/ngày đầu tháng 4/2019 và đạt mức cao nhất đến 63,4 triệu kWh ngày 20/4/2019. Theo đó, điện năng tiêu thụ bình quân một ngày của tháng 4/2019 tăng 16,17% so với tháng 3/2019.

Tại TP. Hồ Chí Minh, mức tiêu thụ điện từ 71 triệu kWh/ngày cuối tháng 3/2019 lên đến trên 83 triệu kWh/ngày đầu tháng 4/2019 và đạt mức cao nhất 90,04 triệu kWh vào ngày 24/4/2019. Theo đó, điện năng tiêu thụ bình quân ngày của tháng 4/2019 tăng 15,53% so với tháng 3/2019.

Nguyên nhân thứ hai là do tác động của việc điều chỉnh giá bán điện bình quân của tất cả các nhóm khách hàng là 8,36%, áp dụng từ ngày 20/3/2019. Theo tính toán của EVN,  riêng với nhóm khách hàng sử dụng điện sinh hoạt, mức tăng tiền điện từ 8,35-8,38%, tuỳ theo mức độ sử dụng điện trong tháng.

Nguyên nhân thứ ba là do số ngày sử dụng điện trong kỳ hóa đơn tháng 4 là 31 ngày, nhiều hơn so với kỳ hóa đơn tháng 3 chỉ có 28 ngày (nhiều hơn 3 ngày). Việc số ngày tăng thêm trong tháng làm cho điện năng sử dụng của tháng 4/2019 tăng thêm 10,71%.

Tổng cộng lại, nguyên nhân nắng nóng làm tiêu thụ điện tăng khoảng 16%, số ngày sử dụng nhiều hơn khiến tiêu thụ tăng thêm 10,71%.

“Kể cả việc nếu không có điều chỉnh giá điện vào cuối tháng 3 thì cũng đã làm tăng mức tiêu thụ điện của tháng lên gần 27%. Đây chính là 2 nguyên nhân cơ bản dẫn đến hóa đơn tiền điện tăng lên đáng kể…”, EVN phân tích.

Trên thực tế, tính đến ngày 26/4/2019, thống kê về hoá đơn tiền điện của các hộ gia đình tại hai thành phố lớn nhất cả nước cho thấy tại Hà Nội có trên 57,29% khách hàng sử dụng điện sinh hoạt có mức điện năng sử dụng tháng 4/2019 tăng trên 30% so với tháng 3/2019; tỷ lệ này tại TP. Hồ Chí Minh là trên 47,18%.

9,55% số hộ phải trả tăng thêm tiền điện ở mức cao

Cũng theo EVN, sản lượng tiêu thụ điện trên toàn hệ thống trong tháng 4 tăng cao đột biến nhưng chỉ tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Số lượng hộ sử dụng điện sinh hoạt trên địa bàn Hà Nội là 2.275.596, trong đó có 196.368 hộ sử dụng điện sinh hoạt có sản lượng điện tiêu thụ tăng gấp 2 lần trở lên so với tháng 3/2019, tương ứng tỷ lệ 8,63%; 538.481 hộ có sản lượng điện tiêu thụ tăng từ 1,5-2 lần, tương ứng tỷ lệ 23,66%.

TP. Hồ Chí Minh có 2.265.310 hộ sử dụng điện sinh hoạt, thì có 176.991 hộ có sản lượng điện tiêu thụ tăng gấp 2 lần trở lên, tương ứng tỷ lệ 7,84%; 323.822 hộ có sản lượng điện tiêu thụ tăng từ 1,5-2 lần, tương ứng tỷ lệ 14,36%.

Theo số liệu của EVN, hiện nay trên cả nước có hơn 26,8 triệu khách hàng sử dụng điện sinh hoạt, theo hóa đơn tiền điện tháng 4/2019, có 90,45% hộ sử dụng điện sinh hoạt với sản lượng tiêu thụ điện từ 1-400kWh, trong đó có 36,47% hộ có sản lượng điện tiêu thụ từ 100-200kWh. Các hộ sử dụng điện sinh hoạt này thanh toán tiền điện tương đương với 6 bậc thang sử dụng cho khách hàng sinh hoạt.

Theo tính toán của EVN, người tiêu dùng điện phải trả thêm từ 7.000 đồng cho 50kWh đầu tiên đến 77.200 đồng mức trên 400kWh. Có 9,55% hộ sử dụng điện sinh hoạt có sản lượng điện tiêu thụ trên 400kWh, số hộ này phải trả tăng thêm 22.600 đồng cho mỗi 100 kWh, tính từ kWh thứ 401.

“Căn cứ vào hóa đơn tiền điện tháng 4/2019 cho thấy, số hộ có sản lượng điện tiêu thụ tăng cao chỉ chiếm 9,55% và tập trung chủ yếu ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, không ảnh hưởng nhiều tới đa số khách hàng sử dụng điện”, EVN cho biết.

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam, giá điện tại Việt Nam năm 2018 ở mức 0,074 USD/kWh, bằng 91,9% giá điện của Trung Quốc, Ấn Độ; 81,7% giá điện của Lào; 73,5% giá điện của Indonesia; 50,4% giá điện của Philippine và 38,7% giá điện của Campuchia…

Với giá điện được điều chỉnh tăng ở mức 8,36% so với giá điện bình quân hiện hành thì giá điện của Việt Nam sẽ ở mức 0,080 USD/kWh, mức giá này tương đương so với các nước như Trung Quốc, Ấn Độ.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.092 23.272 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.083 23..293 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.250
50.640
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.250
50.620
Vàng SJC 5c
50.250
50.640
Vàng nhẫn 9999
49.950
50.500
Vàng nữ trang 9999
49.650
50.400