4 cải cách khơi thông thị trường vốn, khuyến nghị của WB

12:29 | 19/12/2019

Cải thiện khung quy phạm pháp luật để cải cách thị trường phát hành riêng lẻ và đẩy mạnh thị trường niêm yết, đại chúng cho trái phiếu doanh nghiệp được coi là nội dung trọng tâm trong cải cách khơi thông thị trường vốn, báo cáo Điểm lại mới đây của Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định.

4 cai cach khoi thong thi truong von khuyen nghi cua wb

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), mặc dù đã có hàng loạt cải cách trong thời gian qua, tuy nhiên, thị trường vốn trong nước của Việt Nam vẫn chưa phát triển so với hầu hết các nền kinh tế phát triển nhất và trong khu vực.

Nhìn nhận thị trường vốn rõ ràng là kênh bổ sung vốn hiệu quả cho nguồn vốn tín dụng của ngân hàng vì chuyên về nguồn tài chính dài hạn, WB đưa ra 4 khuyến nghị mà Việt Nam cần quan tâm để đẩy mạnh sự phát triển của các thị trường vốn đồng thời mang đến động lực tăng trưởng bổ sung mới cho nền kinh tế.

Thứ nhất là hoàn thiện nền tảng pháp lý về huy động tài chính. WB cho rằng, Việt Nam cần ưu tiên hiện đại hóa nền tảng quy phạm pháp luật cho các thị trường. Với khung quy phạm pháp luật vững vàng và ổn định kết hợp hạ tầng thị trường hiệu quả là nền tảng để các thành viên thị trường yên tâm gia nhập.

Trong số các ưu tiên thì nhu cầu cấp thiết hiện nay là sửa Luật chứng khoán và các quy định nhằm cải thiện về minh bạch và công khai thông tin trên thị trường, cơ chế, thể chế hoạt động cũng như hạ tầng thị trường theo chuẩn mực quốc tế.

Đặc biệt, cải thiện khung quy phạm pháp luật để cải cách thị trường phát hành riêng lẻ và đẩy mạnh thị trường niêm yết, đại chúng cho trái phiếu doanh nghiệp cần được coi là trọng tâm.

Thứ hai là cần cải thiện về quản trị, công khai và công bố thông tin cũng như hạ tầng thị trường. Theo WB, thách thức quan trọng ở Việt Nam là phải hình thành được văn hóa định mức tín nhiệm thông qua chuẩn mực cao về công khai, công bố thông tin. Sự tham gia vào vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp đến nay vẫn ở mức rất hạn chế. Điều này một phần do thiếu minh bạch và thông tin chỉ được công bố cho các nhà đầu tư dự kiến. Một phần nữa chiếm chủ yếu là nhiều lô phát hành trái phiếu trong thời gian qua dưới hình thức phát hành riêng lẻ và dành cho các ngân hàng trong nước.

Vì vậy, các vấn đề về quản trị doanh nghiệp và đánh giá định mức tín nhiệm cần được cải thiện để đảm bảo thị trường tài chính có thể vận hành hợp lý và qua đó giúp đánh giá, định giá trái phiếu phát hành một cách hợp lý.

Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận thông tin đáng tin cậy về thị trường và chứng khoán phát hành cũng là điều kiện cần để nâng cao lòng tin của nhà đầu tư.

Thứ ba là xúc tiến các sản phẩm đổi mới sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. WB cho rằng, nhu cầu huy động tài chính dài hạn, nhất là cho hạ tầng ở Việt Nam hiện nay vẫn ở mức cao do tốc độ đô thị hóa vẫn diễn ra nhanh chóng. Việc thiếu đầu tư cho hạ tầng sẽ gây khó khăn cho việc duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Trong khi đó, các ngân hàng với những hạn chế về vốn và thanh khoản cũng sẽ khó có thể đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn ngày càng tăng đó.

Chính vì vậy, cần phải có các công cụ mới để huy động tài chính như trái phiếu dự án, quỹ đầu tư hạ tầng, chứng khoán đảm bảo bằng tài sản, các giải pháp và công cụ tài chính khác để hỗ trợ đầu tư cho hạn tầng ở Việt nam.

Thứ tư là cần mở rộng mạng lưới nhà đầu tư cho các thị trường vốn. Mở rộng mạng lưới các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư ngoài ngân hàng là yếu tố quan trọng để phát triển các thị trường vốn. Theo WB, việc mở rộng và đa dạng hóa nhà đầu tư có vai trò quan trọng không chỉ nhằm duy trì tăng trưởng thị trường mà còn để nâng cao thanh khoản và giảm biến động.

Nhận định về nhân tố nhà đầu tư nước ngoài, WB cho rằng, nhà đầu tư nước ngoài có thể ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của thị trường khi họ tạo ra những áp lực tích cực về chất lượng và dịch vụ của tổ chức trung gian. Tuy nhiên, họ cũng có thể làm tăng biến động và khiến cho thị trường trong nước dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động trên thị trường quốc tế.

Báo cáo của WB cũng lưu ý, mặc dù mở rộng mạng lưới các nhà đầu tư ra các thành viên ngoài ngân hàng cũng quan trọng, tuy nhiên việc hệ thống ngân hàng lành mạnh là điều kiện tiên quyết để phát triển các thị trường vốn. Ngân hàng là nơi cung cấp thanh khoản cho các thị trường vốn vì cho đến nay ngân hàng vẫn là những thành viên lớn nhất trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam.

Như Hoa

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.092 23.272 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.083 23..293 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.250
50.640
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.250
50.620
Vàng SJC 5c
50.250
50.640
Vàng nhẫn 9999
49.950
50.500
Vàng nữ trang 9999
49.650
50.400