500 DN tư nhân lớn nhất: Tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa trên mở rộng nguồn lực, tăng quy mô

18:48 | 10/08/2022

Ngày 10/8, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia (NCIF), Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp cùng Viện Konrad Andenauer Stiftung Việt Nam tổ chức Hội thảo lấy ý kiến đóng góp cho báo cáo đánh giá 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam (VPE500).

TS. Lương Văn Khôi – Phó Giám đốc NCIF cho biết, khu vực kinh tế tư nhân đang ngày càng trở thành khu vực quan trọng trong nền kinh tế, như đã được khẳng định trong Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 3/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và gần đây là Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Năm 2018, khu vực này chiếm 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp hơn 40% GDP, 38% ngân sách Nhà nước và tạo việc làm cho 80% lao động. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, giai đoạn 2021-2030 nêu rõ “phát triển nhanh, hài hòa các khu vực kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; phát triển kinh tế tư nhân thực sự là một động lực quan trọng của nền kinh tế”. Trong đại dịch COVID-19, vai trò và vị thế của khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục được khẳng định, tạo nền tảng quan trọng để khu vực kinh tế tư nhân là “lực kéo”, là “trụ cột” của nền kinh tế.

500 doanh nghiep tu nhan lon nhat tang truong chu yeu van dua tren mo rong nguon luc tang quy mo

Nhóm 500 doanh nghiệp VPE500 được lựa chọn dựa trên việc xếp hạng theo giá trị trung bình thứ hạng của 3 tiêu chí lao động; tổng tài sản; doanh thu. Chỉ số sử dụng cho xếp hạng là trung bình cộng của thứ hạng trên 3 tiêu chí trên. Cách xếp hạng này khác với các xếp hạng của báo cáo hiện nay của Việt Nam (VNR500) hoặc Fortune500.

Trong số 668,5 nghìn doanh nghiệp (số liệu năm 2019), doanh nghiệp tư nhân là 647,6 nghìn doanh nghiệp. Trong đó, riêng nhóm VPE500 (chiếm 0,089% tổng số doanh nghiệp) đã tạo việc làm cho 10,4% lao động, chiếm 13% tổng tài sản và tạo ra 15,8% doanh thu thuần. Như vậy, VPE500 có thể coi như lực lượng dẫn dắt, tạo ảnh hưởng trên thị trường và kết quả hoạt động của nhóm doanh nghiệp này có thể coi như hàn thử biểu của khu vực doanh nghiệp.

Báo cáo cho thấy, tài sản và doanh thu của nhóm VPE500 đang tăng nhanh nhất so với các nhóm doanh nghiệp khác cũng như trong chính nhóm các doanh nghiệp tư nhân (VPEs). Tuy nhiên, tốc độ tăng năng suất lao động của VPE500 không cao hơn nhiều so với VPEs, cho thấy tăng trưởng nhóm này vẫn dựa trên mở rộng nguồn lực, tăng quy mô hơn là tăng năng suất lao động.

Cũng theo báo cáo, các chính sách hiện hành cho thấy, từ định hướng, chủ trương đến cơ chế, chính sách, Việt Nam không có sự phân biệt đối xử hoặc chính sách riêng đặc thù cho doanh nghiệp lớn, thậm chí có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đóng góp cho báo cáo, bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế cho rằng về môi trường kinh doanh, nếu nhìn vào văn bản pháp lý thì không có sự phân biệt đối xử, nhưng thực tế sự phân biệt đối xử vẫn nặng nề, nhất là trong phân bổ nguồn lực và điều này báo cáo chưa nêu rõ. Thực tế, nguồn lực lớn đang ở trong tay doanh nghiệp Nhà nước, do có yếu tố lịch sử, và thứ đến là doanh nghiệp FDI cũng luôn dễ tiếp cận nguồn lực đất đai hơn doanh nghiệp Việt Nam; hay doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp thân hữu dễ tiếp cận hơn doanh nghiệp nhỏ và vừa, siêu nhỏ, hộ kinh doanh.

Chuyên gia này cho rằng các nghiên cứu cần đưa ra những góc nhìn thẳng như vậy. Chứ nếu chỉ nhìn trên văn bản pháp quy sẽ không thấy được thực tế này. Số văn bản, thông tư nhiều gấp 5-6 lần số nghị định và gấp hàng chục lần luật. Tuy luật là văn bản pháp quy cao nhất nhưng nhiều quy định lại cài cắm ở thông tư. Do đó, cần thiết công khai, minh bạch, công bằng, tính nhất quán, tính khả thi của chính sách…

“Những điều này từ ngày tôi làm việc đến nay vẫn là vấn đề nan giải. Việt Nam không thiếu các văn bản hay, nhưng việc thực thi lại khác. Nhiều khi những quyết sách hay, chính sách tốt đưa ra trên văn bản lại bị rơi rụng trong thực thi”, bà Phạm Chi Lan nói.

Nhóm chuyên gia NCIF cho rằng, các chính sách trong thời gian tới cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng không chỉ tạo thuận lợi với doanh nghiệp trong gia nhập thị trường mà còn giúp doanh nghiệp sống sót và tăng trưởng. Đặc biệt cần khuyến khích các doanh nghiệp lớn đầu tư để cải tạo năng suất chuyển dần sang tăng trưởng theo chiều sâu.

Trong khi đó theo chuyên gia Phạm Chi Lan, không nên có đề nghị chính sách riêng cho doanh nghiệp lớn, mà chỉ có chính sách ưu đãi chung cho khu vực tư nhân. Các nước dành sự ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ yếu tập trung chính sách để hỗ trợ cho các ngành phát triển, còn doanh nghiệp nào tham gia thực hiện các chương trình dự án lớn mà nhà nước định hướng cần phát triển thì doanh nghiệp tham gia được thụ hưởng.

“Cái cần nhất cho doanh nghiệp tư nhân phát triển là sự bình đẳng và cần giải quyết vấn đề về quyền tài sản, bởi hiện nay đây đang là một vướng mắc”, theo bà Phạm Chi Lan.

Lê Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.565 23.845 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.545 23.845 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.830 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.530 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.585 23.960 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.520 23.990 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.450
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
50.950