ADB dự báo GDP Việt Nam chỉ tăng 2% năm 2021

14:05 | 14/12/2021

Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) vừa phát hành ấn bản bổ sung cho báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO) 2021, trong đó điều chỉnh giảm triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tế khu vực Châu Á đang phát triển (gồm 46 nền kinh tế thành viên đang phát triển của ADB), đặc biệt là tiếp tục điều chỉnh mạnh tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021.

Tăng của Việt Nam dự báo chỉ 2%

Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam ở mức âm 6,2% trong quý III/2021 do tác động nghiêm trọng của COVID-19. Điều này đã kéo tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm xuống mức thấp lịch sử, chỉ đạt 1,4%. Tình trạng thiếu việc làm đã làm giảm sức cầu trong nước, cũng như giãn cách xã hội đã gây ra tình trạng thiếu hụt lao động ở TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận trong quý III.

Thương mại duy trì tăng trưởng với thặng dư khiêm tốn 225 triệu USD trong 11 tháng đầu năm. Việc tiêm phòng nhanh chóng vào tháng 9 và tháng 10 dường như đã giúp làm chậm sự lây lan của vi rút, nhưng sự gia tăng mạnh của các trường hợp mắc mới vẫn buộc một số tỉnh phải khôi phục lại các hoạt động ngăn chặn.

adb du bao gdp viet nam chi tang 2 nam 2021

Triển vọng kinh tế phục hồi mạnh mẽ trong quý IV bị phủ bóng bởi tỷ lệ nhiễm COVID-19 cao, hạn chế đi lại tiếp tục được duy trì ở một số tỉnh và nguồn cung lao động hạn chế ở các thành phố trọng điểm. Hơn nữa, việc giải ngân vốn đầu tư công chậm chạp sẽ cản trở mục tiêu thúc đẩy nhu cầu trong nước.

Dự báo tăng trưởng cho năm 2021 do đó được điều chỉnh giảm từ 3,8% (trong dự báo của ADO cập nhật đưa ra vào tháng 9) xuống 2%. Dự báo tăng trưởng năm 2022 được duy trì không đổi ở mức 6,5%, nhờ việc mở rộng phạm vi tiêm chủng có thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP.

Nhu cầu thấp hơn ở Việt Nam dự báo sẽ giữ lạm phát ở mức 2,2% vào năm 2021, thấp hơn so với dự báo trước đó (dự báo ở mức 2,8% trong ADO cập nhật đưa ra vào tháng 9), nhưng dự báo cho năm 2022 được điều chỉnh lên 3,8% (từ mức 3,5% đưa ra vào tháng 9) do dự kiến ​​sẽ tiếp tục có biến động giá cả trên thế giới và những tác động từ lạm phát gia tăng ở các nền kinh tế tiên tiến.

Điều chỉnh giảm với khu vực các nền kinh tế Châu Á đang phát triển

ADB đã điều chỉnh dự báo của mình về triển vọng tăng trưởng kinh tế của khu vực Châu Á đang phát triển, giảm nhẹ còn 7% (từ mức 7,1% trong dự báo vào tháng 9) trong năm nay và 5,3% (từ mức 5,4%) trong năm tới, sau khi các đợt bùng phát mới của dịch bệnh do vi-rút corona (COVID-19) dẫn tới mức tăng trưởng chậm hơn trong quý III.

Quyền Chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB, ông Joseph Zveglich, Jr., nhận định: “Tiến triển đều đặn của Châu Á đang phát triển trong việc ứng phó COVID-19, thông qua các đợt tiêm chủng được tiếp tục triển khai và việc ứng dụng các biện pháp ngăn chặn có tính chiến lược hơn, đã giúp thúc đẩy triển vọng tăng trưởng hồi đầu năm. Tuy nhiên, các đợt bùng phát mới trong quý III đã khiến tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội bị chững lại, và sự xuất hiện của biến thể Omicron đang dẫn đến tình trạng bất định mới. Những nỗ lực phục hồi gần đây sẽ phải tính đến các diễn biến này”.

Rủi ro chính đối với triển vọng tăng trưởng vẫn là sự gia tăng lại số ca mắc COVID-19. Số ca nhiễm trung bình mỗi ngày trên toàn cầu đã tăng lên tới gần 573.000 ca vào ngày 30/11, so với 404.000 ca vào ngày 15/10. Tỉ lệ tiêm chủng của Châu Á đang phát triển đã gia tăng đáng kể, lên tới 48,7% (được tiêm chủng đầy đủ) tính đến ngày 30/11.

Trái ngược với xu hướng chung của khu vực Châu Á đang phát triển, nền kinh tế Trung Á dự kiến ​​sẽ tăng trưởng 4,7% trong năm nay, phản ánh giá cả hàng hóa cao hơn và chi tiêu công gia tăng. Dự báo cho năm tới cũng được nâng từ mức 4,2% vào tháng 9 lên tới 4,4%.

Triển vọng tăng trưởng của Đông Á đã bị giảm 0,1 điểm phần trăm cho cả năm 2021 và 2022, lần lượt xuống còn 7,5% và 5,0%, trong bối cảnh có sự điều chỉnh giảm nhẹ đối với dự báo của Trung Quốc - nền kinh tế lớn nhất khu vực. Kinh tế Trung Quốc hiện được dự kiến tăng trưởng 8% trong năm nay và 5,3% vào năm tới.

Nam Á được dự báo sẽ tăng trưởng 8,6% vào năm 2021, so với mức dự báo 8,8% hồi tháng 9. Triển vọng năm 2022 của tiểu vùng vẫn duy trì ở mức 7%. Ấn Độ, nền kinh tế lớn nhất Nam Á, hiện được dự kiến tăng trưởng 9,7% trong năm tài khóa 2021, kết thúc vào ngày 31/3/2022. Mức giảm 0,3 điểm phần trăm diễn ra trong bối cảnh các vấn đề về chuỗi cung ứng đang ảnh hưởng đến ngành công nghiệp. Triển vọng của Ấn Độ cho năm tài khóa 2022 được duy trì ở mức 7,5%, do nhu cầu trong nước dự kiến ​​sẽ quay trở lại mức bình thường.

Triển vọng tăng trưởng năm 2021 của Đông Nam Á được điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm, xuống còn 3% trong năm nay, khi các nền kinh tế trong tiểu vùng áp đặt những hạn chế có trọng điểm để ứng phó với biến thể Delta của COVID-19. Dự báo tăng trưởng cho năm sau được tăng lên 5,1%, khi các nền kinh tế dự kiến sẽ tiếp tục nới lỏng hạn chế nói chung và phục hồi các hoạt động kinh tế.

Lạm phát trong khu vực được dự báo vẫn nằm trong tầm kiểm soát, ở mức 2,1% vào năm 2021 và 2,7% trong năm 2022, cho phép thực hiện chính sách tiền tệ thích ứng hơn và hỗ trợ các nỗ lực phục hồi đại dịch.

ADO là ấn phẩm kinh tế thường niên hàng đầu của ADB, được phát hành vào tháng 4 hàng năm, với bản Cập nhật được công bố vào tháng 9 hàng năm và các ấn bản bổ sung tóm tắt được công bố định kỳ trong tháng 7 và tháng 12 hàng năm. Châu Á đang phát triển gồm tới 46 nền kinh tế thành viên đang phát triển của ADB.

Lê Đỗ

Nguồn:

Tags: adb dự báo GDP

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.010 23.320 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.035 23.315 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.015 23.315 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.010 23.310 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.060 23.270 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.060 23.280 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.032 23.600 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.031 23.322 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.050 23.290 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.090 23.280 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
69.000
69.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
69.000
69.900
Vàng SJC 5c
69.000
69.920
Vàng nhẫn 9999
54.350
55.300
Vàng nữ trang 9999
54.100
54.900