ADB hạ triển vọng tăng trưởng với nhiều quốc gia châu Á

07:00 | 24/09/2021

Trong bối cảnh vẫn còn có những quan ngại về đại dịch Covid-19, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã hạ triển vọng tăng trưởng kinh tế năm 2021 đối với các quốc gia đang phát triển châu Á.

adb ha trien vong tang truong voi nhieu quoc gia chau a Hạ dự báo xuống 3,8%, ADB vẫn lạc quan về kinh tế Việt Nam

Cụ thể theo bản cập nhật báo cáo Triển vọng Phát triển châu Á (ADO) năm 2021, ADB dự báo mức tăng trưởng đạt 7,1% trong năm nay, so với mức dự báo về tăng trưởng 7,3% đưa ra vào tháng 4/2021. Triển vọng tăng trưởng năm 2022 được nâng từ mức 5,3% lên 5,4%. Các biến thể Covid-19 mới, các đợt bùng phát cục bộ mới, việc khôi phục các cấp độ hạn chế và phong tỏa khác nhau cũng như việc triển khai vắc xin chậm và không đồng đều đang làm giảm triển vọng của khu vực.

adb ha trien vong tang truong voi nhieu quoc gia chau a
Ảnh minh họa

"Các quốc gia đang phát triển châu Á vẫn dễ bị tổn thương bởi đại dịch Covid-19, khi các biến thể mới bùng phát, dẫn đến những hạn chế đi lại mới ở một số nền kinh tế", Quyền chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB - ông Joseph Zveglich Jr. cho biết. "Các biện pháp chính sách không nên chỉ tập trung vào việc kiềm chế đại dịch và tiêm chủng mà còn phải tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp và hộ gia đình cũng như định hướng lại các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế để thích ứng với một “trạng thái bình thường mới” khi đại dịch lắng xuống để khởi động quá trình phục hồi".

Số ca nhiễm Covid-19 ở các quốc gia đang phát triển khu vực châu Á đã tăng lên kể từ khi biến thể Delta xuất hiện vào tháng 4. Trong khi đó, tiến độ tiêm chủng ở các quốc gia đang phát triển châu Á vẫn không đồng đều và tụt hậu so với các nền kinh tế phát triển. Tính đến ngày 31/8/2021, mới có khoảng 28,7% dân số trong khu vực được bảo vệ bằng vắc xin đầy đủ, so với tỷ lệ bao phủ 51,8% ở Hoa Kỳ và 58% ở Liên minh Châu Âu.

Con đường phục hồi trong khu vực vì vậy vẫn không đồng đều. Dự báo tăng trưởng của Đông Á năm nay được nâng lên 7,6% từ mức 7,4%, do nhu cầu toàn cầu đối với các mặt hàng nhiên liệu xuất khẩu từ khu vực này tăng mạnh. Triển vọng tăng trưởng của Đông Á cho năm 2022 vẫn giữ nguyên ở mức 5,1%. Dự báo tăng trưởng của Trung Quốc, nền kinh tế lớn nhất của khu vực, vẫn ở mức 8,1% vào năm 2021 và 5,5% vào năm 2022.

Triển vọng tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế Trung Á trong năm nay được nâng lên 4,1% từ mức 3,4% theo dự báo hồi tháng 4, trong bối cảnh triển vọng của Armenia, Azerbaijan, Georgia, Kazakhstan, và Uzbekistan đã được cải thiện. Triển vọng năm 2022 của tiểu vùng đã được cải thiện, tăng từ 4% lên 4,2%.

ADB dự kiến mức tăng trưởng kinh tế ở Nam Á đạt 8,8% trong năm nay, so với mức 9,5% dự báo hồi tháng 4 cho tiểu vùng. Tuy nhiên, triển vọng cho năm 2022 đã được cải thiện từ 6,6% lên 7%. Dự báo cho Ấn Độ - nền kinh tế lớn nhất của tiểu vùng - bị hạ xuống còn 10% từ mức 11% vào năm 2021, trong khi triển vọng cho năm tới đã được cải thiện, tăng từ mức 7% lên 7,5%.

Dự báo cho khu vực Đông Nam Á cũng đã được điều chỉnh giảm, do các nền kinh tế ở các tiểu vùng này tiếp tục phải vật lộn với các biến thể mới của vi-rút, các biện pháp phong tỏa và hạn chế tiếp tục được áp dụng, và tiến độ triển khai vắc xin chậm. Các dự báo tăng trưởng của Đông Nam Á cho năm 2021 và 2022 đã được hạ xuống lần lượt 3,1% và 5%, so với mức dự báo tương ứng 4,4% và 5,1% đưa ra vào tháng 4/2021.

Lạm phát ở các quốc gia đang phát triển châu Á dự kiến sẽ vẫn trong tầm kiểm soát, ở mức 2,2% trong năm nay và 2,7% vào năm 2022. Xu hướng giá thực phẩm và hàng hóa quốc tế cao hơn hiện nay có thể gây ra lạm phát ở một số nền kinh tế trong khu vực.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.637 22.857 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.655 22.867 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.643 22.853 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200