AFMGM+3: Hợp tác để ứng phó với các tác động của đại dịch

14:15 | 18/09/2020

Ngày 18/9/2020, tại Hà Nội, Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương ASEAN+3 lần thứ 23 (AFMGM+3) đã diễn ra theo hình thức trực tuyến. Đây là hội nghị quan trọng nhất trong chuỗi các sự kiện hợp tác tài chính ASEAN+3 do Việt Nam và Nhật Bản đồng chủ trì trong năm 2020.

afmgm3 hop tac de ung pho voi cac tac dong cua dai dich
Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Lê Minh Hưng đồng chủ trì Hội nghị AFMGM+3

Lãnh đạo tham dự hội nghị các bên gồm các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước trong khu vực ASEAN+3; Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB); Giám đốc khu vực Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF); Giám đốc Cơ quan Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO); Tổng Thư ký ASEAN.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Lê Minh Hưng đồng chủ trì Hội nghị cùng với Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật Bản Aso Taro và Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản Kuroda Haruhiko.

Tại Hội nghị, các Bộ trưởng Tài chính, Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN cùng với các đối tác Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, lãnh đạo các tổ chức tài chính quốc tế đã đối thoại chính sách về tình hình kinh tế vĩ mô toàn cầu và khu vực cũng như các biện pháp nhằm ứng phó trước đại dịch Covid-19.

Các Bộ trưởng và Thống đốc cũng xem xét việc triển khai các sáng kiến hợp tác thuộc Tiến trình hợp tác tài chính ASEAN+3, định hướng chiến lược và các sáng kiến mới của Tiến trình hợp tác tài chính ASEAN+3 và thông qua Tuyên bố chung của Hội nghị.

afmgm3 hop tac de ung pho voi cac tac dong cua dai dich
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Lê Minh Hưng tại Hội nghị AFMGM+3

Triển vọng kinh tế khu vực

Theo dự báo của IMF, kinh tế toàn cầu năm 2020 sẽ suy giảm 4,9%; khu vực châu Á giảm 1,6%. Trong đó, khu vực ASEAN dự báo tăng trưởng ở mức âm 2%; các nước ASEAN+3 gồm Nhật Bản tăng trưởng dự báo âm 5,8%; Hàn Quốc âm 2,1%; Trung Quốc tăng trưởng 1%.

Thảo luận về triển vọng phát triển kinh tế toàn cầu và khu vực, Hội nghị đã chia sẻ về các giải pháp chính sách mà các nền kinh tế khu vực đã và đang triển khai nhằm ngăn chặn đại dịch và phục hồi tăng trưởng kinh tế, bao gồm gói các giải pháp về tài khóa, tiền tệ và quy định quản lý hệ thống tài chính.

Các Bộ trưởng và Thống đốc nhận định trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, các tác động do đại dịch gây ra đối với chuỗi cung ứng toàn cầu càng trở nên nghiêm trọng. Điều này đặt ra yêu cầu đối với các cơ quan quản lý tài chính, tiền tệ trong việc xây dựng, ban hành các biện pháp, chính sách kinh tế vĩ mô kịp thời, hiệu quả nhằm tăng cường khả năng chống chịu của các nền kinh tế trước các cú sốc, qua đó giúp duy trì sự ổn định và toàn vẹn của hệ thống tài chính.

Việt Nam nỗ lực giảm thiểu tác động tiêu cực của đại dịch

Về phía Việt Nam, Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc NHNN đã chia sẻ các giải pháp chính sách mang tính toàn diện nhằm duy trì ổn định tài chính và giảm thiểu những tác động tiêu cực của đại dịch. Trong đó, NHNN đã hai lần giảm lãi suất điều hành nhằm hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay, tạo điều kiện cho cả tổ chức tín dụng lẫn người vay được tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp hơn.

Cùng với đó, NHNN tiếp tục theo dõi sát sao diễn biến thị trường, điều hành tỷ giá chủ động và linh hoạt phù hợp với cung cầu thị trường; điều chỉnh quy định liên quan cho phép các tổ chức tín dụng cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi, phí dịch thanh toán cho khách hàng; và tiếp tục các nỗ lực cải cách hệ thống và tăng cường hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của hệ thống.

Các giải pháp đồng bộ và linh hoạt trong công tác điều hành chính sách của Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã mang lại nhiều kết quả quan trọng, qua đó góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống. Thị trường tiền tệ ổn định, mặt bằng lãi suất cho vay giảm, tỷ giá và thị trường ngoại tệ diễn biến ổn định, dự trữ ngoại hối tiếp tục tăng, qua đó góp phần duy trì môi trường kinh doanh ổn định cho doanh nghiệp. Những kết quả khả quan này là yếu tố quan trọng góp phần củng cố mức tín nhiệm quốc gia và duy trì lòng tin của các nhà đầu tư đối với kinh tế Việt Nam.

Trong bối cảnh kinh tế và khu vực còn gặp nhiều thách thức và khó khăn, dự báo năm 2020 Việt Nam vẫn đạt tăng trưởng dương, ước tính ở mức 2% - 2,5% và năm 2021 dự báo tăng trưởng đạt khoảng 6,7%.

Các hành động chính sách của Chính phủ Việt Nam cũng được các tổ chức quốc tế và các nước ASEAN+3 tham dự Hội nghị đánh giá cao. Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra các dự báo tích cực với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: ADB dự báo triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2020 tăng 1,8%; WB dự báo đạt 2,8% năm 2020. Đây là những dự báo tích cực trong bối cảnh nhiều nền kinh tế trên toàn cầu và khu vực dự báo tăng trưởng suy giảm do tác động của đại dịch.

afmgm3 hop tac de ung pho voi cac tac dong cua dai dich
Toàn cảnh Hội nghị AFMGM+3

Thúc đẩy hợp tác tài chính ASEAN+3

Các đại biểu nhất trí cho rằng hợp tác khu vực, trong đó có hợp tác tài chính, là yếu tố quan trọng giúp các quốc gia tăng cường năng lực phối hợp và ứng phó với các tác động của đại dịch và hỗ trợ phục hồi kinh tế một cách bền vững.

Tại Hội nghị, Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng trung ương ASEAN+3 đã thông qua các nội dung kỹ thuật quan trọng, bao gồm sửa đổi Thỏa thuận Đa phương hóa Sáng kiến Chiang Mai (CMIM). Trong đó, một trong những sửa đổi đáng chú ý là tăng tỷ lệ tiếp cận chương trình CMIM không gắn với các khoản vay của IMF từ 30% lên 40% và các tài liệu hướng dẫn triển khai thực hiện Thỏa thuận CMIM, bao gồm Sổ tay hướng dẫn thực hiện giao dịch hoán đổi CMIM, Hướng dẫn áp dụng khuôn khổ điều kiện chương trình CMIM gắn và không gắn với chương trình của IMF; kế hoạch triển khai chạy thử nghiệm CMIM bằng tiền thật lần thứ 11...

Các kết quả nêu trên góp phần tích cực trong việc tăng tính sẵn sàng, hiệu quả hoạt động của CMIM, đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường tài chính, hướng tới mục tiêu đưa CMIM trở thành công cụ hữu hiệu nhằm bổ sung cho mạng lưới an ninh tài chính khu vực và toàn cầu. Các kết quả hợp tác đạt được của Sáng kiến CMIM có ý nghĩa quan trọng trong việc thắt chặt hợp tác và tăng cường hỗ trợ lẫn nhau trong bối cảnh kinh tế khu vực đang đối mặt với nhiều khó khăn và bất ổn.

Hội nghị đánh giá cao những nỗ lực của AMRO với tư cách là một tổ chức quốc tế trong thời gian qua đã triển khai tích cực các hoạt động giám sát kinh tế vĩ mô, cung cấp các đánh giá, phân tích tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với khu vực và đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm đảm bảo duy trì ổn định tình hình kinh tế vĩ mô và tài chính khu vực.

Các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng trung ương khu vực cũng ghi nhận và đánh giá cao tiến độ thực hiện và kết quả đạt được của các nhóm công tác thuộc sáng kiến Thị trường Trái phiếu châu Á (ABMI) trong việc nghiên cứu nâng cao môi trường thu hút nhà đầu tư, phát triển thêm công cụ đầu tư mới, hoàn thiện khung khổ pháp lý, phát triển cơ sở hạ tầng cho thị trường trái phiếu cũng như các hoạt động triển khai các chương trình hỗ trợ kỹ thuật để phát triển thị trường trái phiếu trong nước của các nền kinh tế thành viên.

Nhằm tăng cường ổn định kinh tế và tài chính khu vực, các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương hoan nghênh việc triển khai các sáng kiến mới trong khuôn khổ Định hướng chiến lược Tiến trình Hợp tác Tài chính ASEAN+3, bao gồm các sáng kiến: (i) Thúc đẩy sử dụng đồng nội tệ cho thanh toán thương mại và đầu tư, cũng như kết nối thanh toán; (ii) Phát triển sáng kiến toàn diện về tài chính cơ sở hạ tầng; (iii) Thiết kế các công cụ hỗ trợ để giúp các thành viên giải quyết tốt hơn các vấn đề về cấu trúc kinh tế vĩ mô; (iv) Hài hòa hóa các sáng kiến hợp tác về tài chính chống biến đổi khí hậu như Sáng kiến Cơ chế Bảo hiểm Rủi ro thiên tai (SEADRIF) và (v) Tăng cường phối hợp chính sách để khai thác lợi ích của tiến bộ công nghệ trong việc giảm thiểu các rủi ro tài chính.

Với sự nhất trí cao, các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng trung ương đã thông qua Tuyên bố chung của Hội nghị AFMGM+3. Tuyên bố chung nhấn mạnh, Hội nghị AFMGM+3 lần thứ 23 dưới sự chủ trì của Việt Nam và Nhật Bản đã diễn ra thành công tốt đẹp. Các nước thành viên đánh giá cao công tác tổ chức và chủ trì, điều hành Hội nghị của Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản trong năm 2020 và hy vọng Hội nghị lần thứ 24 sẽ được tổ chức thành công tại Tbilisi, Georgia dưới sự Đồng chủ trì của Bru-nây và Hàn Quốc vào năm 2021.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Tags: AFMGM+3

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.042 23.272 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.075 23..287 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.069 23.269 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.830
56.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.830
56.330
Vàng SJC 5c
55.830
56.350
Vàng nhẫn 9999
53.430
53.930
Vàng nữ trang 9999
52.930
53.630