Áp lực lạm phát của Mỹ có thể giảm bớt

10:30 | 26/05/2021

Bà Mary Daly, Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang San Francisco cho biết, các yếu tố đẩy lạm phát của Mỹ lên cao hơn có khả năng sẽ ít đi vào đầu năm 2022.

Một chuỗi các yếu tố tạm thời gây lạm phát sẽ chỉ kéo dài đến cuối năm nay. Khó có thể nói trước được bao nhiêu trong số đó sẽ bùng nổ hoặc liệu những nút thắt khác sẽ xuất hiện hay không khi nước Mỹ bắt đầu khôi phục nền kinh tế và phục hồi trở lại. Lạm phát có thể sẽ tiếp tục tăng cho đến cuối năm 2021 do một loạt các áp lực đang gia tăng như hiện nay, bao gồm cả các hạn chế của chuỗi cung ứng trong vận chuyển và sản xuất chất bán dẫn.

Lạm phát cao hơn đã khiến một số nhà đầu tư lo lắng trong bối cảnh giá hàng hóa tăng cao, trong khi các chuyên gia của Fed cho rằng các chính sách nới lỏng kết hợp với việc kích thích tài khóa lớn, có nguy cơ làm nền kinh tế Mỹ quá nóng. Nhu cầu tăng vọt cùng với một số nút thắt về nguồn cung có thể sẽ đẩy các yếu tố lạm phát lên trên 2% trong thời gian tới.

ap luc lam phat cua my co the giam bot
Ảnh minh họa

Thời điểm tháng trước Fed vẫn giữ lãi suất gần bằng 0 và sẽ tiếp tục duy trì việc mua tài sản khổng lồ hàng tháng của họ cho đến khi đạt được “tiến bộ đáng kể hơn nữa” về việc làm và lạm phát. Tuy nhiên, theo kết quả tại cuộc họp ngày 27-28/4 vừa qua cho thấy một số quan chức Fed đã sẵn sàng thảo luận về việc thu hẹp lại việc mua trái phiếu nếu nền kinh tế tiếp tục đạt được một số tiến bộ nhanh chóng.

Chủ tịch Fed Dallas Robert Kaplan và Chủ tịch Fed Philadelphia Patrick Harker đồng quan điểm cho rằng, Fed nên bắt đầu đề cập về việc giảm mua trái phiếu trong thời gian sớm hơn. Sẽ mất "một thời gian" để đạt được tiến bộ đó do quy mô của tình trạng thiếu việc làm vẫn còn so với trước khi đại dịch Covid-19 bắt đầu, mặc dù ngày càng có nhiều người muốn thảo luận về thời gian để bắt đầu sớm hơn. Nhưng Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết còn quá sớm để nghĩ đến việc loại bỏ một số chính sách điều chỉnh hiện hành của ngân hàng trung ương.

Ngân hàng Trung ương Mỹ hiện đang mua 120 tỷ USD chứng khoán được bảo đảm bằng thế chấp của ngân hàng và Kho bạc mỗi tháng và các quan chức của ngân hàng cho biết sẽ tiếp tục mua với tốc độ đó cho đến khi nền kinh tế đạt được “tiến bộ đáng kể hơn nữa” đối với mục tiêu việc làm và lạm phát của Fed.

Việc gia tăng giá nhà gần đây là do sự thay đổi cấu trúc nơi mọi người muốn sinh sống. Nhiều người đã rời các căn hộ nhỏ ở thành phố để tìm nhà ở ngoại ô giữa cơn đại dịch. Nhiều khoản mua nhà vẫn dành cho nhà ở chính chứ không phải việc mua nhà thứ hai hoặc thậm chí thứ ba, đây chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009. Tuy chính sách tiền tệ hiện đang duy trì ở một mức độ tốt nhưng các nhà hoạch định chính sách cần phải “chuyên tâm” hơn nữa vì hơn 8 triệu người vẫn đang thất nghiệp so với mức trước đại dịch.

Minh Đức

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800