Áp lực lạm phát đang lớn dần

09:34 | 19/05/2021

Cùng với xu hướng “tăng liên tục, giảm rất ít” của giá xăng dầu, giá các nguyên liệu đầu vào của các ngành sản xuất, chăn nuôi cũng tăng mạnh trong 4 tháng đầu năm, phát đi tín hiệu cho thấy áp lực lạm phát đang lớn dần.

ap luc lam phat dang lon dan Cung tiền - chỉ số quan trọng để kiểm soát lạm phát

Những tín hiệu đáng quan ngại

Theo Tổng cục Thống kê (TCTK), 4 tháng đầu năm nay, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 4,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,77%; dùng cho sản xuất công nghiệp tăng 4,95%; dùng cho xây dựng tăng 1,95%. “Đáng lưu ý giá nhóm sản phẩm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và giá nhóm sản phẩm sắt thép tăng cao, khiến người chăn nuôi, các doanh nghiệp liên quan phải đối mặt với nhiều thách thức”, Bản tin ngày 11/5 của TCTK nhận định.

Nếu các số liệu của TCTK đã cho thấy phần nào bức tranh về giá cả tăng thì những diễn biến thực tế thị trường những ngày gần đây càng cho thấy rõ áp lực này. Nhiều đơn vị chăn nuôi và sản xuất, chế biến các sản phẩm chăn nuôi cho biết giá thức ăn chăn nuôi tăng tới 30% và là nguyên nhân chính khiến họ gặp khó khăn trong tính toán bài toán kinh doanh để ít nhất không rơi vào thua lỗ.

ap luc lam phat dang lon dan

Tình trạng giá tăng nhanh, thậm chí tăng “phi mã” cũng xảy ra với nhóm sản phẩm kim loại, đặc biệt là sắt, thép. Số liệu của TCTK cho thấy, chỉ số giá sản xuất nhóm sản phẩm kim loại tháng 4/2021 tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 11,18% so với cùng kỳ năm 2020 (bình quân 4 tháng tăng 7,7%). Trong đó, chỉ số giá sản xuất nhóm sản phẩm sắt, thép ghi nhận mức tăng “phi mã” khi tháng 4/2021 tăng 4,23% so với tháng trước và tăng tới 27,68% so với cùng kỳ năm trước (bình quân 4 tháng đầu năm 2021 tăng 23,15%).

Giá nguyên liệu nhập khẩu đầu vào và chi phí logistics tăng chóng mặt cũng là yếu tố chính khiến các doanh nghiệp trong ngành thép, gỗ, dệt may, cao su, nhựa… đang đối mặt với thực tế: Đơn hàng dồi dào, doanh thu tốt lên nhưng lợi nhuận lại ngày càng mỏng đi.

TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV cho rằng, các áp lực đối với lạm phát đang lớn hơn và chủ yếu đến từ sức cầu trong nước vẫn yếu, trong khi chi phí nguyên liệu đầu vào sản xuất, chi phí logistics và giá nhiên liệu vẫn trong xu thế tăng và áp lực từ lạm phát cao hơn của kinh tế thế giới năm nay tới trong nước cũng lớn hơn. “Đáng chú ý, nếu giá lương thực, thực phẩm trong nước tăng và việc Nhà nước có thể điều chỉnh một số mặt hàng do Nhà nước quản lý như điện, nước, y tế, giáo dục… sẽ tạo áp lực tăng lạm phát đáng kể”, chuyên gia này nhận định.

Không thể lơ là

Tuy nhiên chuyên gia Cấn Văn Lực cũng cho rằng, nền tảng vĩ mô ổn định, các cân đối lớn ở trạng thái tốt hơn, phối hợp chính sách ngày càng ăn nhịp hơn trong khi sức cầu vẫn yếu và vòng quay tiền còn chậm… sẽ là những yếu tố giúp áp lực lạm phát không quá lớn. “Chúng tôi dự báo CPI cả năm nay sẽ trong khoảng 3,4-3,6%”, chuyên gia này cho biết.

Lạc quan hơn, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính thậm chí vẫn giữ dự báo lạm phát sẽ ở mức rất thấp cho năm nay. “Tôi cho rằng, CPI năm nay sẽ chỉ tăng khoảng 2% so với năm ngoái. Mức tăng có thể sẽ cao hơn trong năm 2022 nhưng nhiều khả năng vẫn sẽ dưới mức dưới 4%. Áp lực lạm phát chỉ cao hơn đáng kể từ 2023, thời điểm mà nền kinh tế có thể phục hồi hoàn toàn từ đại dịch Covid-19”, TS. Độ nhận định.

Lý giải cho dự báo trên, TS. Độ cho biết nhìn từ bên ngoài, mặc dù có nhiều phân tích cho rằng lạm phát đang tăng cao khiến Fed có thể sớm thay đổi CSTT nhưng điều này nếu diễn ra ít nhất cũng phải vào năm sau (2022). Fed theo đuổi mục tiêu lạm phát trung bình quanh 2% trong thời gian dài nên nhiều khả năng sẽ chấp nhận lạm phát ở mức cao hơn trong cả năm 2021 (mà không thay đổi CSTT) để bù lại cho giai đoạn lạm phát thấp trong năm 2020. Còn nếu giá hàng hóa cơ bản tiếp tục tăng cao và cầu tiêu dùng cũng tiếp tục tăng lên tác động đến lạm phát trong dài hạn thì có khả năng Fed sẽ thắt chặt CSTT từ năm tới.

Trong khi đó ở trong nước, dịch Covid-19 vẫn là yếu tố chính khiến sức cầu yếu. “Áp lực lạm phát có cao hơn trong thời điểm hiện nay khi giá hàng hóa cơ bản trên thế giới tăng mạnh nhưng sức cầu nội địa hiện nay vẫn yếu vì Covid và thực tế số liệu tháng 4 vừa qua cho thấy CPI giảm nhẹ so với tháng 3 và chỉ tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, chưa xuất hiện yếu tố quá quan ngại để lạm phát có thể vượt mức 4% trong năm nay và cả năm sau”, TS. Độ nói.

Tuy nhiên, “không thể lơ là” vẫn là cảnh báo được các chuyên gia đưa ra. “Không chủ quan với lạm phát, tăng vòng quay tiền trong nền kinh tế thực, tiếp tục nắn dòng tiền vào những lĩnh vực có tính lan tỏa cao; tiếp tục các biện pháp chấn chỉnh hiện tượng “sốt giá” bất động sản đất nền vì đây là lĩnh vực nhạy cảm, ảnh hưởng mạnh đến tâm lý đầu tư, tâm lý thị trường…” là một trong những khuyến nghị được TS. Cấn Văn Lực đưa ra.

Bên cạnh đó, chuyên gia này cho rằng, cần nâng cao hơn nữa hiệu quả phối hợp CSTT và tài khóa thông qua việc gắn quan điểm điều hành, kiểm soát lạm phát với yêu cầu phục hồi, tăng trưởng kinh tế cả ngắn hạn và trung - dài hạn để ứng xử phù hợp; chú trọng thực hiện hiệu quả các giải pháp hỗ trợ tài khóa và tiền tệ; tiếp tục lành mạnh hóa thị trường trái phiếu doanh nghiệp để đa dạng hóa kênh huy động, phân phối vốn trong nền kinh tế, giảm áp lực cho vốn tín dụng; phối hợp chặt chẽ với chính sách điều hành giá cả, trong đó việc tăng giá các mặt hàng Nhà nước quản lý cần được tính toán kỹ lưỡng, có đánh giá tác động và giải pháp phù hợp…

Theo Phó Tổng cục trưởng TCTK Nguyễn Trung Tiến, việc CPI bình quân chỉ tăng 0,89% trong 4 tháng đầu năm là điều kiện thuận lợi, tạo dư địa để có thể kiểm soát lạm phát cả năm 2021 theo mục tiêu đặt ra. Tuy nhiên, áp lực lạm phát vẫn hiện hữu và có thể tăng lên trong những tháng về cuối năm. Do đó, các ngành, các cấp không nên chủ quan trong kiểm soát lạm phát. Trong đó, các cơ quan chức năng cần theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng thiết yếu; chủ động trong việc điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý đúng thời điểm với liều lượng phù hợp; Liên Bộ Công thương - tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu hợp lý để hạn chế mức tăng giá của mặt hàng này đến CPI chung.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.850 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.830 23.050 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.850 23.065 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.835 23.050 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.850 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.880 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.200
Vàng SJC 5c
56.500
57.220
Vàng nhẫn 9999
50.950
51.650
Vàng nữ trang 9999
50.650
51.350