Áp lực lên lãi suất sẽ hạ nhiệt

07:59 | 01/12/2022

NHTW đã sử dụng các công cụ rất linh hoạt để góp phần ổn định vĩ mô; đồng thời đảm bảo thanh khoản cho các NHTM. Đây là những quyết sách vừa là giải pháp, vừa mang tính chủ động ứng phó nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực từ biến động kinh tế thế giới. Đến nay, thị trường trong nước đã và đang ổn định ở mặt bằng mới.

Tính đến cuối tháng 10/2022, toàn hệ thống tín dụng tăng trưởng 11,35% so với cuối năm 2021, trong khi nguồn vốn huy động chỉ tăng 4,6%. Thực trạng đó khiến thanh khoản của hệ thống không còn dồi dào như thời gian trước. Cộng thêm áp lực lạm phát khiến các ngân hàng đã liên tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở các kỳ hạn.

Các ngân hàng quy mô nhỏ và trung bình hiện nay đã nâng lãi suất không kỳ hạn và các kỳ hạn dưới 6 tháng chạm trần quy định của NHNN, lần lượt 1%/năm và 6%/năm.

Về các kỳ hạn dài, NCB đã nâng lãi suất sản phẩm tiết kiệm An Phú lên 10,35%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng cho người gửi tiền 1 tỷ đồng theo hình thức gửi tiết kiệm online. Saigonbank nâng lãi suất tiết kiệm lên 10,5%/năm cho kỳ hạn 13 tháng.

Một số ngân hàng khác cũng nâng lãi suất tiết kiệm áp sát mức 10%/năm đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên như: KienlongBank, GPBank, VPBank, VietABank…

Techcombank - vốn là ngân hàng có tỷ lệ CASA cao cũng đã phải tăng lãi suất tiết kiệm để giữ chân khách hàng. Theo đó, ngân hàng này vừa đưa lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng lên 9,3%/năm; các kỳ hạn 6 đến 9 tháng có cùng mức lãi suất 9%/năm.

ap luc len lai suat se ha nhiet
Vietcombank tiên phong giảm lãi suất cho vay.

Theo mặt bằng chung, các NHTM có vốn nhà nước chi phối cũng đã điều chỉnh biểu lãi suất huy động. Theo đó, Vietcombank khuyến khích người gửi tiền online bằng cách tăng lãi suất kỳ hạn 1 tháng lên mức 5,3%/năm, lãi suất kỳ hạn 3 tháng lên 6%/năm, 6 tháng tăng lên 6,8%/năm, 12 tháng trở lên ở mức 7,7%/năm.

Trong khi đó tại VietinBank khách hàng gửi tiết kiệm online sẽ được hưởng lãi suất cao hơn gửi tại quầy 1,8%/năm ở một số kỳ hạn dài. Lãi suất tiết kiệm cao nhất của ngân hàng này hiện nay ở mức 8,2%/năm đối với các kỳ hạn trên 13 tháng.

Nhìn chung các ngân hàng muốn tăng cường thu hút nguồn vốn trong dài hạn để cơ cấu lại nguồn vốn nên điều chỉnh lãi suất ở các kỳ hạn dài mạnh hơn.

Tuy nhiên theo các chuyên gia, áp lực lên lãi suất đang có dấu hiệu dịu bớt. Trước hết là lạm phát đang có xu hướng giảm tốc trên toàn cầu. Điều đó khiến các NHTW trên thế giới, đặc biệt là Fed có thể chậm lại tốc độ tăng lãi suất. Theo đó Fed vừa phát đi thông điệp sẽ giảm tốc độ tăng lãi suất trong thời gian tới sau khi áp lực lạm phát đã giảm đi đáng kể so với đầu năm nay. Điều đó khiến đồng USD điều chỉnh giảm khá mạnh trong thời gian gần đây, từ đó làm giảm áp lực tới tỷ giá và lãi suất ở trong nước.

Theo đó, các NHTM có thể sẽ điều chỉnh lãi suất tiền gửi ở một số kỳ hạn cho phù hợp với giá vốn đầu vào để ổn định lãi suất cho vay trên thị trường. Điều này đã được 18 NHTM thống nhất trong cuộc họp với NHNN Việt Nam mới đây. Trên cơ sở đó, Vietcombank đã công bố giảm 1% lãi suất cho vay trong hai tháng 11 và 12/2022 đối với tất cả các khoản vay của cá nhân và tổ chức, trừ khoản vay bất động sản, chứng khoán; tương tự HDBank cũng vừa công bố giảm từ 0,5%-3,5% lãi suất cho vay khách hàng trong hai tháng cuối năm 2022…

Ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó Giám đốc NHNN chi nhánh TP.HCM cho biết, những điều chỉnh của NHTW về lãi suất, tỷ giá trong thời gian qua với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát. NHTW đã sử dụng các công cụ rất linh hoạt để góp phần ổn định vĩ mô; đồng thời đảm bảo thanh khoản cho các NHTM. Đây là những quyết sách vừa là giải pháp, vừa mang tính chủ động ứng phó nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực từ biến động kinh tế thế giới. Đến nay, thị trường trong nước đã và đang ổn định ở mặt bằng mới.

Minh Phương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.430 23.800 24.662 26.042 27.702 28.883 175,33 185,62
BIDV 23.490 23.790 24.859 26.062 27.830 28.912 173.60 182.70
VietinBank 23.400 23.800 24.488 26.123 28.168 29.178 176,97 184,92
Agribank 23.440 23.800 24.910 26.057 27.948 28.857 177,53 185,26
Eximbank 23.410 23.750 24.970 25.647 28.029 28.789 177,36 182,17
ACB 23.400 23.800 25.009 25.606 28.028 28.765 177,51 181,93
Sacombank 23.470 23.870 25.080 25.687 28.247 28.862 177,80 183,35
Techcombank 23.430 23.790 24.760 26.090 27.766 29.067 173,38 185,81
LienVietPostBank 23.430 24.100 24.880 26.235 28.154 29.108 176,00 187,77
DongA Bank 23.480 23.790 24.980 25.620 28.050 28.760 176,5 182,10
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.400
Vàng SJC 5c
66.600
67.420
Vàng nhẫn 9999
54.000
54.950
Vàng nữ trang 9999
53.750
54.550