Bắc Ninh gần đuổi kịp TP.Hồ Chí Minh về kim ngạch xuất khẩu

16:03 | 19/01/2022

Theo số liệu của Sở Công Thương TP.Hồ Chí Minh, kim ngạch xuất khẩu năm 2021 của  thành phố đạt 44,9 tỷ USD, tăng 1% so với năm 2020. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của thành phố thấp hơn đáng kể so với tốc độ chung của cả nước (tăng 19%), được lý giải là do chịu tác động nặng nề của đại dịch COVID-19. Song, kể cả trong trường hợp không chịu tác động của đại dịch thì từ năm 2010 trở lại đây, TP.Hồ Chí Minh cũng đang dần đánh mất vị thế đầu tàu xuất khẩu của cả nước.

Vấn đề này được đặt ra tại hội thảo “Giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhằm tạo thuận lợi thương mại trong bối cảnh COVID-19”, do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) phối hợp với Sở Công Thương TP.Hồ Chí Minh tổ chức ngày 18/1/2022.

TP.Hồ Chí Minh mất dần vị thế đầu tàu

Ông Lê Huỳnh Minh Tú, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP.Hồ Chí Minh đánh giá trong năm qua, hầu hết các thị trường xuất khẩu chủ yếu của thành phố đều có kim ngạch giảm, như Trung Quốc giảm 8,7%, Hoa Kỳ giảm 2,3%, Nhật Bản giảm 14,7%, EU giảm 0,8%. Xu hướng này trái ngược hoàn toàn với cả nước là tất cả các thị trường xuất khẩu chủ lực đều tăng trưởng tốt.

TP.Hồ Chí Minh đã đặt mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2021-2025 là bình quân 11%/năm đối với hàng hoá, 15%/năm đối với dịch vụ. Tuy nhiên, mức tăng trưởng của năm khởi đầu giai đoạn cho thấy để đạt được mục tiêu này là rất khó khăn.

bac ninh da duoi kip tpho chi minh ve kim ngach xuat khau
Toàn cảnh hội thảo - Nguồn: Đạt Vĩnh Trần/Dự án USAID TFP

Ông Nguyễn Khắc Hiếu, Phó trưởng Phòng Quản lý xuất nhập khẩu, Sở Công Thương TP.Hồ Chí Minh nêu thực trạng là từ năm 2004 đến nay, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của thành phố và tỷ trọng đóng góp của thành phố vào kim ngạch chung của cả nước có xu hướng giảm dần theo thời gian. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của cả nước luôn cao hơn so với thành phố. Nếu như năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của TP.Hồ Chí Minh chiếm khoảng 47% tổng kim ngạch của cả nước thì tới năm 2010, tỷ lệ này giảm xuống còn 31%. Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu của thành phố chỉ còn chiếm khoảng 18% tổng kim ngạch của cả nước và tới năm 2020 tỷ lệ này tiếp tục giảm xuống còn 15,6%.

“Tốc độ tăng trưởng giảm dần do ảnh hưởng của nguyên lý giá trị biên giảm dần. Với tình hình đầu tư hiện tại thì tốc độ tăng trưởng của thành phố khó mà tăng cao nữa trong thời gian tới”, ông Hiếu lo ngại.

So sánh giữa 5 tỉnh, thành phố có kim ngạch xuất khẩu cao nhất cả nước cho thấy rõ hơn thực trạng này. Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của TP.Hồ Chí Minh cao vượt trội so với 4 tỉnh, thành phố còn lại gồm Bắc Ninh, Thái Nguyên, Bình Dương và Đồng Nai; cao gấp 2,6 lần so với tỉnh đứng thứ 2 là Bình Dương (22,47 tỷ USD so với 8,54 tỷ USD). Tuy nhiên tới năm 2021, Bắc Ninh đã gần như đuổi kịp TP.Hồ Chí Minh với kim ngạch bám đuổi sát nút là 44,8 tỷ USD so với 44,9 tỷ USD.

4 địa phương trong Top đầu sau TP.Hồ Chí Minh đều có sự vươn lên vượt bậc về kim ngạch xuất nhập khẩu trong những năm gần đây. Trong đó, Bắc Ninh và Thái Nguyên có được sự bứt tốc là nhờ thu hút đầu tư vào các nhóm ngành công nghệ cao, công nghiệp điện tử; Bình Dương và Đồng Nai đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp. Trong khi đó, TP.Hồ Chí Minh trong 10 năm gần đây không không đầu tư thêm các khu công nghiệp lớn, thu hút đầu tư công nghệ cao được chú trọng nhưng kết quả chưa được như kỳ vọng.

Xét theo top 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất cũng cho thấy "điểm nghẽn" trong xuất khẩu của TP.Hồ Chí Minh. Theo đó, từ năm 2000 cho tới 2014-2015, Hoa Kỳ luôn là thị trường xuất khẩu hàng đầu của các doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh nhưng tới giai đoạn sau đó đã bắt đầu có sự đổi ngôi. Trong đó, xuất khẩu vào Trung Quốc tăng trưởng rất cao và hiện nay Trung Quốc là thị trường lớn nhất của doanh nghiệp xuất khẩu tại TP.Hồ Chí Minh.

“Điều đó có nghĩa là chúng ta khai thác các thị trường ở khu vực địa lý xa có hạn chế, trục trặc, nên không giữ được tốc độ tăng trưởng và Trung Quốc đã trở thành thị trường hàng đầu của doanh nghiệp thành phố”, ông Hiếu cho biết thêm.

Ngoài ra, tổng kim ngạch xuất khẩu vào 10 thị trường hàng đầu chiếm tới 73% kim ngạch xuất khẩu của thành phố, còn lại thuộc về gần 200 nền kinh tế khác. Việc thị trường xuất khẩu của thành phố tập trung vào các nước Hoa Kỳ và Đông Bắc Á cho thấy tính đa dạng thị trường xuất khẩu không cao.

Nỗ lực tìm giải pháp tăng tốc

Sở Công Thương TP.Hồ Chí Minh đánh giá, hiện nay, công tác kiểm soát dịch bệnh trên địa bàn đang được triển khai tốt nhưng hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp khó có thể sớm phục hồi. Các vấn đề về nhân công, tài xế, kho bãi, giá cước vận tải biển tăng cao, tình trạng thiếu hụt container rỗng, thiết bị bốc dỡ và tàu chuyên chở vẫn đang khiến các chuỗi cung ứng đối mặt áp lực lớn.

Đặc biệt, các thị trường xuất khẩu trọng điểm của thành phố nói riêng, Việt Nam nói chung đang có xu hướng tăng cường áp dụng nhiều biện pháp để phòng chống dịch, gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.

Bà Ann Marie Yastishock, Giám đốc USAID Việt Nam cho biết, Hoa Kỳ là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các doanh nghiệp tại TP.Hồ Chí Minh. USAID thông qua Dự án Tạo thuận lợi thương mại (Dự án USAID TFP) luôn xem TP.Hồ Chí Minh là đối tác chiến lược trong các hoạt động tạo thuận lợi thương mại.

“Thông qua hội thảo, chúng tôi hy vọng thu thập được nhiều ý kiến đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan hữu quan để từ đó có các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, cắt giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp và khắc phục những khó khăn trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 còn diễn biến phức tạp, gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực”, bà Ann Marie Yastishock bày tỏ.

Đề án phát triển xuất khẩu trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đến năm 2025, tầm nhìn 2030 đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu bình quân 9,5%/năm trong giai đoạn 2021-2025 và 9%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Kim ngạch xuất khẩu của thành phố đến năm 2025 ước đạt 70 tỷ USD và đến năm 2030 đạt 108 tỷ USD.

Cũng theo Đề án, hoạt động xuất khẩu hàng hóa tại thành phố hiện còn một số hạn chế. Trong đó, thủ tục hành chính của hải quan, kiểm tra chuyên ngành dù đã có nhiều cải thiện nhưng vẫn bị doanh nghiệp đánh giá là chưa tiện lợi. Vì vậy, cải cách và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, cung cấp dịch vụ công trực tuyến cần được đẩy mạnh, nhất là trong định hướng phát triển TP.Hồ Chí Minh trở thành trung tâm dịch vụ xuất khẩu của cả vùng phía Nam.

Ngọc Khanh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400