Bài toán điều tiết giá

15:00 | 05/04/2019

Trong bối cảnh này, để kiểm soát chỉ số CPI trong quý II và những quý tới, Tổng cục Thống kê vừa đưa ra đề xuất không nên điều chỉnh giá các mặt hàng thiết yếu do Nhà nước quản lý cùng lúc, đặc biệt là trong quý II và đầu quý III. Riêng đối với giá xăng dầu, cần sử dụng quỹ bình ổn giá linh hoạt để hạn chế tác động lên giá cả thị trường.

Trong ngày 2/4/2019, Liên bộ Tài chính  - Công thương đã quyết định kết hợp chi quỹ bình ổn giá và tăng mỗi lít xăng E5 RON 92 thêm 1.377 đồng, lên mức 18.588 đồng, xăng RON 95 tăng 1.484 đồng, lên mức 20.033 đồng. Theo chu kỳ 15 ngày một lần Liên bộ sẽ có quyết định điều hành giá xăng dầu.

Không nên điều chỉnh giá các mặt hàng thiết yếu do Nhà nước quản lý cùng lúc

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết, diễn biến giá xăng dầu thế giới liên tục tăng, lẽ ra ở kỳ điều chỉnh giá ngày 18/3/2019 đã phải tăng giá, nhưng để giảm ảnh hưởng bởi việc tăng giá điện, nên Liên bộ quyết định dùng Quỹ bình ổn giá, bù tới hơn 2.800 đồng/lít với xăng E5RON92, xăng RON95 là 2.061 đồng, nhằm tránh chồng chéo và tăng kép hai mặt hàng thiết yếu là xăng dầu và điện. Theo bà Đỗ Thị Ngọc, Vụ trưởng Vụ Thống kê giá, Tổng cục Thống kê, quyết định xả Quỹ bình ổn để không tăng giá xăng hôm 18/3 đã giảm thiểu tâm lý lo ngại tăng giá các mặt hàng thiết yếu khi giá điện cũng đã điều chỉnh tăng. CPI quý I hầu như không chịu tác động từ việc tăng giá của 2 mặt hàng thiết yếu này.

Nhưng nếu diễn biến giá xăng dầu thế giới trong những ngày tới vẫn duy trì ở mức cao và vẫn trong xu hướng tăng, thì kỳ điều chỉnh xăng dầu lần tới khó tránh được việc tăng giá do quỹ trích lập bình ổn không đủ để bù đắp. Theo bà Ngọc, tác động tăng giá xăng dầu và giá điện từ quý II sẽ rõ ràng và trực tiếp. Giá điện vừa điều chỉnh tăng cộng với áp lực tăng giá xăng dầu rất lớn sẽ tác động nhiều tới chi tiêu của người dân và chi phí sản xuất. Chỉ riêng giá điện tăng 8,36% từ ngày 20/3/2019, theo tính toán của Bộ Công thương và Tổng cục Thống kê, thì CPI sẽ tăng trong khoảng 3,3% đến 3,9%. Nhất là từ ngày 30/4, bắt đầu vào mùa du lịch nên sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ, bà Ngọc dự tính.

Tính cả 2 lần tăng, giá xăng đã tăng 2.430 đồng/lít, tức là tăng khoảng 8%. Và theo nghiên cứu của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, nếu giá xăng tăng trong khoảng 5% thì ảnh hưởng tới các ngành kinh tế là rõ nét. PGS-TS.Tô Trung Thành, trưởng nhóm nghiên cứu của Trường đại học Kinh tế quốc dân cho biết.

“Ảnh hưởng từ giá xăng dầu tăng là rất lớn, cả trực tiếp và gián tiếp tới hầu hết các ngành sản xuất quan trọng cả trong ngắn và dài hạn, gây tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế giá xăng dầu đã tăng ngay từ đầu năm khi bao hàm thêm mức tăng thuế bảo vệ môi trường. Chưa kể tác động cộng hưởng từ tăng giá điện cùng các mặt hàng khác thì ảnh hưởng tới nền kinh tế sẽ lớn hơn rất nhiều, do đó cần hết sức cẩn trọng trong điều hành giá để tránh làm tăng mạnh chi phí sản xuất, gây khó khăn cho DN và ảnh hưởng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát”, ông Thành khuyến cáo.

Theo nghiên cứu này, nếu xăng dầu tăng giá 5% thì ngay trong tháng đầu tiên sau tăng, CPI sẽ tăng khoảng 0,18%. Đến tháng thứ 2 ảnh hưởng trực tiếp của giá xăng dầu đến tiêu dùng cuối cùng của dân cư làm CPI tăng 0,21% và tháng thứ 3, tăng khoảng 0,22%. Ngoài ra, xăng dầu tăng giá khiến chi phí trung gian của nền kinh tế tăng 0,39%, tỷ lệ chi phí trung gian trên giá trị sản xuất tăng lên 0,1 điểm phần trăm, từ đó dẫn đến chỉ số giá khi bán cho người mua tăng 0,25%. CPI tăng ở chu kỳ sản xuất sau thông qua quá trình sản xuất là 0,25%. 

Nghiên cứu này chỉ ra có các nhóm ngành chịu ảnh hưởng mạnh và ngay lập tức từ giá xăng tăng gồm dịch vụ vận chuyển, lưu trữ và bưu chính; dịch vụ lưu trú và ăn uống; thủy sản; dịch vụ khí đốt, cấp thoát nước và chất thải; và dịch vụ vận tải, kho bãi. Giá xăng dầu tăng sẽ tác động vào giá các sản phẩm dịch vụ của các nhóm sản phẩm ở vòng đầu này một cách nhanh chóng do xăng dầu là sản phẩm đầu vào quan trọng.

5 nhóm ngành chịu tác động mạnh ở vòng sau gồm có sản xuất kim loại, chịu tác động gián tiếp vòng sau tới 95,9%; sản xuất thực phẩm, đồ uống 94%; hóa chất, hóa dược và dược liệu; cao su 91%; sản xuất xe có động cơ 89%; khai khoáng 70,5%. Đây là những ngành sử dụng sản phẩm đầu vào từ những ngành khác nhiều nên tác động của việc tăng giá xăng sẽ mạnh từ chu kỳ tiếp sau.

Trong bối cảnh này, để kiểm soát chỉ số CPI trong quý II và những quý tới, Tổng cục Thống kê vừa đưa ra đề xuất không nên điều chỉnh giá các mặt hàng thiết yếu do Nhà nước quản lý cùng lúc, đặc biệt là trong quý II và đầu quý III. Riêng đối với giá xăng dầu, cần sử dụng quỹ bình ổn giá linh hoạt để hạn chế tác động lên giá cả thị trường.

Ngọc Linh

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530