Bất chấp suy giảm toàn cầu, các thị trường trái phiếu Đông Á mới nổi vẫn tăng trưởng

09:42 | 20/11/2019

Thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ của khu vực Đông Á mới nổi cho thấy mức tăng trưởng đều đặn trong quý III/2019, bất chấp tình trạng bất ổn thương mại vẫn còn dai dẳng và sự suy giảm kinh tế toàn cầu, theo nhận định tại báo cáo Giám sát Trái phiếu Châu Á của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) vừa được công bố sáng nay, 20/11.

Chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB, ông Yasuyuki Sawada, nhận định: “Tranh chấp thương mại đang tiếp diễn giữa CHND Trung Hoa (Trung Quốc) và Hoa Kỳ, cùng sự suy giảm kinh tế lớn hơn mức dự báo tại các nền kinh tế phát triển và Trung Quốc tiếp tục là những nguy cơ tiêu cực lớn nhất đối với sự ổn định tài chính của khu vực. Tuy nhiên, việc nới lỏng chính sách tiền tệ tại một số nền kinh tế phát triển đang giúp duy trì những điều kiện tài chính ổn định.”

Khu vực Đông Á mới nổi bao gồm Trung Quốc; Hồng Kông, Trung Quốc; IIndonesia; Hàn Quốc; Malaysia; Philippines; Singapore; Thái Lan và Việt Nam.

Hình minh họa

Tổng giá trị trái phiếu bằng đồng nội tệ đang lưu hành trên thị trường Đông Á mới nổi đạt 15,2 nghìn tỉ USD vào cuối tháng 9, cao hơn 3,1% so với thời điểm cuối tháng 6. Tổng số trái phiếu chính phủ bằng đồng nội tệ đang lưu hành trị giá 9,4 nghìn tỉ USD, chiếm 61,8% tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành, trong khi tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp là 5,8 nghìn tỉ USD. Đã có tổng cộng 1,5 nghìn tỉ USD trái phiếu bằng đồng nội tệ được phát hành trong quý III/2019, tăng 0,9% so với quý trước.

Với Việt Nam, thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ đã gia tăng trong quý III/2019. Tính tới cuối tháng 9, Việt Nam có 55,1 tỉ USD trái phiếu đang lưu hành, cao hơn 3,4% so với quý trước và tăng 1,9% so với cùng kỳ năm ngoái xét theo giá trị đồng nội tệ. Sự gia tăng này chủ yếu là nhờ mức tăng 4% so với quý trước của thị trường trái phiếu chính phủ - lên tới 51 tỉ USD - do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tăng phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. Tỉ lệ tăng trưởng chung của thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ tại Việt Nam bị kiềm chế đôi chút bởi mức sụt giảm 2,8% của thị trường trái phiếu doanh nghiệp so với quý trước, xuống còn 5 tỉ USD. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn đạt mức tăng trưởng 4,2%.

Trung Quốc vẫn là thị trường trái phiếu lớn nhất của Đông Á mới nổi với 11,5 nghìn tỉ USD, chiếm 75,4% tổng giá trị trái phiếu đang lưu hành của khu vực này. In-đô-nê-xia có thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ tăng trưởng nhanh nhất ở khu vực, được thúc đẩy bằng đợt phát hành lớn trái phiếu và tín phiếu kho bạc.

Báo cáo có một chương với chủ đề đặc biệt, xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của thị trường trái phiếu và hành vi chấp nhận rủi ro của các ngân hàng. Phân tích này nhận thấy rằng các thị trường trái phiếu phát triển hơn giúp giảm rủi ro chung của các ngân hàng và tăng cường vị thế thanh khoản của chúng. Điều này hàm ý rằng sự phát triển của thị trường trái phiếu có thể đóng góp vào tính hiệu quả của hệ thống ngân hàng.

"Một khảo sát tính thanh khoản hằng năm trong báo cáo cho thấy sự gia tăng thanh khoản và khối lượng giao dịch tại hầu hết các thị trường trái phiếu bằng đồng nội tệ của khu vực trong năm 2019 so với năm 2018. Nó cũng nêu bật nhu cầu phải có một cơ chế phòng ngừa rủi ro hoạt động hiệu quả và mạng lưới nhà đầu tư đa dạng cho cả trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp", ABD lưu ý.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.486 28.887 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.960 23.160 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.925 23.168 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.990 23.150 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.970 23.182 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.937 23.162 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.450
Vàng SJC 5c
55.900
56.470
Vàng nhẫn 9999
54.650
55.200
Vàng nữ trang 9999
54.300
55.000