Bất động sản có giá cao, giao dịch kém

12:15 | 12/04/2022

Trong quý I/2022 chỉ ghi nhận 1.247 căn hộ được tiêu thụ, giảm 78% so với quý trước và 53% so với cùng kỳ năm 2021. Ngoài việc nguồn cung mới khan hiếm là nguyên nhân chính khiến số lượng căn hộ bán được giảm, phải kể đến yếu tố biên độ giá tăng cao nhanh chóng khiến cho nhà đầu tư dè chừng, xuống tiền một cách cẩn trọng hơn trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, dịch bệnh gây nhiều rủi ro tiềm ẩn.

Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó tổng giám đốc Batdongsan.com.vn cho biết, mặc dù giá bất động sản tăng lên nhưng tính thanh khoản chưa hẳn sẽ tăng vì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Do đó, các nhà đầu tư cá nhân, đặc biệt là nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính cần lưu ý khảo sát mặt bằng giá ở các khu vực, bởi giá bất động sản ở nhiều phân khúc, nhiều tỉnh thành trong cả nước đã tăng 3-5 lần trong khoảng thời gian ngắn. Giá neo ở mức cao nên có thể gặp khó khăn trong thanh khoản. Ngoài ra, khi “xuống tiền” cũng cần lưu ý tới sự dịch chuyển của dòng tiền.

Theo báo cáo phân tích thị trường mới nhất vừa được CBRE công bố, giá bán căn hộ trung bình trên thị trường sơ cấp hiện đạt tăng 3,9% theo quý và 7,8% theo năm. Mức giá trung bình tiếp tục tăng do có sự chuyển dịch cơ cấu từ bình dân, trung cấp lên cao cấp và hạng sang. Tuy nhiên, tốc độ tăng chậm lại từ năm 2021 vì mức giá các nguồn cung mới đều nằm ở đầu của phân khúc cao cấp hoặc hạng sang. Tiêu biểu như các dự án hạng sang đầu tiên ở An Phú, Thảo Điền như Masterise Lumiere Riverside và Thảo Điền Green, các dự án cao cấp đầu tiên tại Bình Tân, Bình Chánh như Moonlight Centre Point, Mizuki Park MP9 - MP10 và giai đoạn tiếp theo của Akari City. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu sản phẩm khiến giá sơ cấp trung bình của phân khúc bình dân và trung cấp tăng 1,6 - 4,7% theo quý.

bat dong san co gia cao giao dich kem
Giá BĐS vẫn neo ở mức cao nhưng giao dịch sụt giảm mạnh so với cùng kỳ

Điều đáng nói, trong quý I/2022 chỉ ghi nhận 1.247 căn hộ được tiêu thụ, giảm 78% so với quý trước và 53% so với cùng kỳ năm 2021. Ngoài việc nguồn cung mới khan hiếm là nguyên nhân chính khiến số lượng căn hộ bán được giảm, phải kể đến yếu tố biên độ giá tăng cao nhanh chóng khiến cho nhà đầu tư dè chừng, xuống tiền một cách cẩn trọng hơn trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, dịch bệnh gây nhiều rủi ro tiềm ẩn.

Bà Dương Thùy Dung, Giám đốc cấp cao CBRE Việt Nam cho rằng, do nhiều ảnh hưởng tiêu cực và quỹ đất ngày càng hạn hẹp, cùng tâm lý thận trọng của thị trường sau khi trải qua 2 năm dịch bệnh đã khiến nguồn cung tạm thời khan hiếm trong ngắn hạn. Đồng thời, phân khúc cao cấp đang chiếm ưu thế trong những dự án mới khiến căn hộ trung cấp và bình dân dần vắng bóng tại thị trường TP.HCM, buộc người mua nhà phải chấp nhận mức giá cao hơn hoặc chuyển hướng tìm kiếm sang các địa phương lân cận như Bình Dương, Đồng Nai và một số tỉnh thành xa hơn.

Tương tự, nghiên cứu thị trường của JLL cũng chỉ ra phân khúc bất động sản nhà ở đang có sự thiết lập mặt bằng giá mới. Cụ thể, mức giá bán trung bình toàn thị trường bao gồm tất cả các phân khúc đạt 75,4 triệu đồng/m2, tăng 8% theo quý và tăng 27% theo năm. Giá bán thị trường căn hộ không ngừng đạt đỉnh trong 10 năm qua, chủ yếu là do giá đất tăng trong bối cảnh quỹ đất hạn chế, chi phí vật liệu xây dựng tăng và thị trường đón nhận nhiều sản phẩm thuộc phân khúc hạng sang và siêu sang thúc đẩy giá trung bình tăng lên. Trong khi đó mức tiêu thụ trong quý I/2022 đạt 2.300 căn, giảm 20% theo quý và giảm 11% theo năm. Đến cuối năm 2022, dự báo nguồn cung căn hộ sẽ đạt 10.000 căn, với sự phổ biến của mô hình khu đô thị phức hợp quy mô lớn và các căn hộ siêu sang xuất hiện trên thị trường.

Vài năm trở lại đây, mức giá bán nhà liền thổ tại TP.HCM cao hơn 3 lần so với giá bán tại các tỉnh lận cận. Cụ thể giá bán trung bình tại TP.HCM đạt khoảng 173 triệu đồng/m2, tăng 30% theo quý và tăng 42% theo năm. Sự tăng giá trung bình đáng kể được ghi nhận trong quý chủ yếu là do mức giá bán cao kỷ lục của 2 dự án tại TP. Thủ Đức đồng thời lập đỉnh giá mới trên thị trường. Trong khi giá bán trung bình tại các tỉnh lân cận chỉ khoảng 60 triệu đồng/m2, tăng 6% theo quý và 46% theo năm.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công bố cho thấy, bình quân 2 tháng đầu năm 2022, CPI tăng 1,68% so với cùng kỳ năm ngoái, lạm phát cơ bản tăng 0,67%. Cùng với đó, tình hình chính trị thế giới cũng tác động đến hoạt động sản xuất và kinh doanh tại Việt Nam. Đồng thời, số liệu của Batdongsan.com.vn cũng cho thấy sự tương đồng, dưới tác động của việc tăng giá dầu, kim loại quý và vật liệu xây dựng, giá bất động sản trong quý I/2022 có xu hướng tăng và dự báo sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.

Ghi nhận thực tế tại nhiều khu vực tại TP. HCM và một số tỉnh thành lân cận như Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, thậm chí ở một số địa phương xa hơn như Đắc Nông, Đắc Lăk, Lâm Đồng… cũng đang diễn ra hiện tượng sốt giá đất cục bộ. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng và các chuyên gia cũng cảnh báo về hiện tượng làm giá đang được các cò đất “tung chiêu”. Vì vậy, có thể không ít nhà đầu tư nhỏ lẻ, thiếu kinh nghiệm sẽ rất dễ trở thành nạn nhân.

Minh Tuyết

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700