Bất động sản có giảm giá sau đại dịch?

07:20 | 29/09/2021

Dịch bệnh là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho các chủ đầu tư phát huy tính chủ động, linh động hơn, lên kế hoạch tốt hơn cho việc bán hàng và đưa ra giá bán phù hợp với tình hình khi đại dịch được kiểm soát. Về triển vọng trong tương lai, thị trường nhà ở, chung cư tại TP.HCM sẽ có nhiều tiềm năng trong trung và dài hạn.

bat dong san co giam gia sau dai dich Xu hướng chọn nhà thời hậu COVID-19 của giới siêu giàu
bat dong san co giam gia sau dai dich Người quan tâm giảm, giá nhà chung cư vẫn tăng 8-9%
bat dong san co giam gia sau dai dich Ngôi nhà thứ hai: Khẩu vị đầu tư đang hướng về đâu?

Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, dù chịu nhiều tác động từ dịch Covid-19 nhưng giá bán bất động sản nhà liền thổ, chung cư tại TP.HCM vẫn đang có mức tăng khá ấn tượng, thậm chí cao hơn khoảng 10% so với năm trước. Lý do những loại hình bất động sản trên vẫn “sống khỏe” bất chấp ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch, bởi nhu cầu của nhà đầu tư vẫn cao, song nguồn cung lại hạn chế. Ngoài ra, đây còn được coi là kênh trú ẩn an toàn khi giá cả có xu hướng “leo thang”, cũng như một số kênh đầu tư khác chưa có dấu hiệu ấm lên.

bat dong san co giam gia sau dai dich
Ảnh minh họa

Thống kê của Savills cho thấy, từ đầu năm 2021 đến nay, phân khúc bất động sản nhà ở, nguồn cung bán ra thị trường hạn hẹp, khiến giá bán tại các dự án vẫn giữ đà tăng liên tục. Cụ thể, đối với phân khúc bất động sản căn hộ, nguồn cung sơ cấp chỉ khoảng 5.800 căn, giảm 38% so với cùng kỳ năm trước. Còn đối với phân khúc nhà liền thổ, biệt thự, nhà phố, nguồn cung sơ cấp trong 6 tháng đầu năm 2021 chỉ hơn 770 căn, giảm 44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhà liền thổ 3.400 căn, biệt thự, nhà phố, cũng chỉ có khoảng 500 căn được tiêu thụ trong 6 tháng, giảm một nửa so với cùng kỳ.

Bà Võ Thị Khánh Trang, Phó giám đốc Bộ phận nghiên cứu, Savills Việt Nam cho rằng, nguồn cung loại hình này đã có sự sụt giảm khá mạnh, lượng hàng chào bán ra thị trường cũng không nhiều. Vì nguồn cung mới và lượng hàng tồn kho thấp nên dẫn đến lượng giao dịch cũng thấp. Chính vì vậy, điểm đáng chú ý của thị trường trong thời gian qua là dù dịch bệnh khiến kinh tế suy giảm nhưng nhìn chung giá bán của căn hộ và nhà phố, biệt thự vẫn có xu hướng tăng.

Nếu chỉ tính riêng trong quý II/2021, 40% các dự án căn hộ đang chào bán trên thị trường đã tăng giá khoảng 15% so với quý trước. Một số dự án mới cũng ghi nhận mức tăng trên 10% so với giai đoạn mở bán trước. Đối với phân khúc biệt thự, nhà phố, do lượng tồn kho ít nên không có nhiều sự tăng giá trong những sản phẩm đang chào bán. Tuy nhiên, giá bán tại thị trường thứ cấp lại có mức tăng giá khá ấn tượng, khoảng 13% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính bởi người Việt Nam vẫn ưu tiên nhà ở liền thổ hơn, nên những sản phẩm nhà phố, đặc biệt là các sản phẩm được phát triển trong các dự án rất được nhà đầu tư quan tâm, tỷ lệ hấp thụ cũng rất tốt.

Ngoài ra, theo số liệu tại Propzy (một công ty bất động sản ứng dụng công nghệ), phân khúc bất động sản có mức giá 3-5 tỷ đồng được giao dịch nhiều nhất tại các quận, huyện, chiếm 34% tổng số các giao dịch lũy kế. Ông Lê Minh Hoàng - Quản lý cấp cao bộ phận định giá Propzy cho biết, các loại bất động sản trong phân khúc này có giá tiền không quá cao, phù hợp cho cả người có nhu cầu mua ở và mua để đầu tư trong giai đoạn thị trường bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 chứa nhiều rủi ro chưa lường trước được.

Song để có thể lựa chọn bất động sản có mức giá phù hợp và tránh bị làm giá ảo, khi nhà đầu tư có ý định “rót vốn” vào bất kỳ loại hình sản phẩm nào có giá trị cao, cần tham khảo giá trị thị trường để tiếp cận đúng với giá trị thực. Trong quá trình định giá, người mua nhà lần đầu nên tìm hiểu kỹ thị trường tại khu vực quan tâm, sau đó dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị như hạ tầng, quy hoạch, tiện ích và thương lượng với người bán. Ngoài ra, người mua cũng cần lưu ý đến yếu tố như khả năng tài chính, số tiền cần có, chọn ngân hàng thực tế, lựa gói vay tài chính, liệt kê các loại phí vay...

Một số chuyên gia bất động sản đưa ra dự báo, từ nay đến cuối năm với tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, thời gian mở bán tại các dự án có thể sẽ chậm lại so với dự kiến. Do đó, nguồn cung trong quý III, quý IV/2021 vẫn khá hạn chế, nên giá bán không thể giảm được, thậm chí sẽ được nhà đầu tư thứ cấp đẩy lên cao so với trước kia. Trong quý IV/2021 và bước qua đầu năm 2020, khi các dự án bắt đầu mở bán với chiến lược về marketing cũng như quảng bá sản phẩm theo xu hướng chuyển đổi số nhiều hơn để tiếp cận khách hàng từ trực tiếp sang online.

Bên cạnh đó, dịch bệnh là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho các chủ đầu tư phát huy tính chủ động, linh động hơn, lên kế hoạch tốt hơn cho việc bán hàng và đưa ra giá bán phù hợp với tình hình khi đại dịch được kiểm soát. Về triển vọng trong tương lai, thị trường nhà ở, chung cư tại TP.HCM sẽ có nhiều tiềm năng trong trung và dài hạn.

Minh Tuyết

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.580 22.810 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.615 22.815 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.595 22.815 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.585 22.780 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.610 22.790 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.620 22.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.615 22.830 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.583 22.813 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.620 22.800 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.640 22.800 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.950
60.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.950
60.650
Vàng SJC 5c
59.950
60.670
Vàng nhẫn 9999
51.450
52.150
Vàng nữ trang 9999
51.150
51.850