Bất động sản quý II: Thị trường ổn định, condotel vẫn khó bán

10:24 | 18/07/2019

Theo thông tin từ Hội Môi giới bất động sản Việt Nam, giá nhà ở tại Hà Nội và TP.HCM có chiều hướng tăng nhẹ trong quý II/2019 nhưng không sốt, thị trường duy trì ở mức ổn định.

Nguồn cung căn hộ chủ yếu ở Hà Nội và TP.HCM

Theo ông Nguyễn Văn Đính, Phó chủ tịch Hội Môi giới bất động sản Việt Nam, trong 3 tháng của quý II, cả nước có nguồn cung căn hộ chung cư là hơn 19.000, sản phẩm thấp tầng hơn 10.000 sản phẩm, đều nhiều hơn trong quý I.

Nguồn cung bất động sản tập trung chủ yếu tại Hà Nội và TP.HCM. Cụ thể, tại Hà Nội có hơn 7.300 căn hộ chung cư và hơn 400 sản phẩm thấp tầng. Tại TP.HCM có hơn 6.500 căn hộ chung cư và gần 700 sản phẩm thấp tầng được đưa ra thị trường.

Trong quý II, nguồn cung ra thị trường tại Hà Nội nhiều nhất là phân khúc căn hộ trung cấp có giá từ 25 - 35 triệu đồng/m2 với hơn 5.700 căn hộ, lượng giao dịch thành công nhiều nhất cũng ở phân khúc này với hơn 4.200 giao dịch thành công. Tiếp theo đó, loại căn hộ bình dân có giá dưới 25 triệu đồng/m2 có hơn 1.000 sản phẩm ra thị trường, giao dịch thành công đến gần 900 căn hộ.

Tại TP.HCM, trong quý II, căn hộ trung cấp mới được đưa ra thị trường có hơn 4.500 căn hộ, giao dịch thành công hơn 3.400 căn hộ.

Một điểm khác biệt giữa thị trường bất động sản TP.HCM và Hà Nội là trong quý II, căn hộ cao cấp tại TP.HCM đưa ra thị trường nhiều hơn, với hơn 1.700 căn hộ, giao dịch thành công hơn 1.300 căn hộ, trong khi tại Hà Nội, số lượng căn hộ cao cấp mới đưa ra thị trường chỉ là hơn 500 căn hộ, giao dịch thành công đạt gần 300 căn hộ.

Tỷ lệ hấp thụ condotel thấp

Ông Nguyễn Văn Đính cho biết, về sản phẩm bất động sản loại hình condotel, Hội Môi giới bất động sản Việt Nam thống kê trong quý II/2019 chỉ ghi nhận hơn 5.000 sản phẩm mới đưa ra thị trường, giao dịch thành công chỉ gần 1.400 sản phẩm, tỉ lệ hấp thụ thấp đạt hơn 27%.

Ông Nguyễn Văn Đính lý giải, nguyên nhân là do nguồn cung mới hạn chế, việc chậm triển khai các thủ tục dự án, các sản phẩm condotel hiện có giá giá tương đối cao cũng ảnh hưởng đến lượng giao dịch và chưa có nhiều chính sách tạo điều kiện phát triển dòng sản phẩm này.

Theo đánh giá của Hội Môi giới bất động sản, nguồn cung mới sản phẩm condotel trong 6 tháng đầu năm là tương đối thấp, sản phẩm chào bán chủ yếu từ các dự án năm 2018 được tiếp tục chào bán, tỷ lệ hấp thụ trong 6 tháng chỉ khoảng 1/4 lượng cung.

Do các chính sách cũng như việc quản lý, vận hành, khai thác kinh doanh condotel, các nhà đầu tư chưa thật sự yên tâm để quyết định đầu tư. Nếu có, khách hàng chủ yếu rót tiền vào các dự án của các chủ đầu tư lớn, có uy tín, kinh nghiệm trong việc quản ký, kinh doanh đạt hiệu quả cao.

Tuy nhiên, theo Hội Môi giới bất động sản Việt Nam, các khu vực có lợi thế về du lịch và hệ thống giao thông thuận tiện, đặc biệt có kết nối bằng đường hàng không như Phú Quốc, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Quảng Ninh tiếp tục được đánh giá là các khu vực có tiềm năng phát triển mạnh về bất động sản nghỉ dưỡng condotel.

Ngoài ra, một số khu vực có tiềm năng phát triển bất động sản nghỉ dưỡng khác như: Thanh Hóa, Quảng Bình, Quy Nhơn, Phú Yên, Bình Thuận, Vũng Tàu… vẫn được sự quan tâm mạnh mẽ từ các nhà đầu tư trên cả nước.

HS

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.105 23.285 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.101 23.281 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.100 23.270 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.100 23.270 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.093 23..303 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.081 23.310 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.110 23.270 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.130 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.050
50.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.050
50.450
Vàng SJC 5c
50.050
50.470
Vàng nhẫn 9999
49.850
50.400
Vàng nữ trang 9999
49.500
50.250