Bổ sung sản phẩm cho loại hình du lịch công tác

09:18 | 06/03/2019

Bà Đỗ Thị Thu Hằng, Phó giám đốc - Trưởng bộ phận Nghiên cứu Savills Hà Nội cho biết, khách hàng chính của phân khúc khách sạn và căn hộ dịch vụ tại Hải Phòng là cán bộ, nhân viên và chuyên gia nước ngoài đến đây công tác. 

Sự xuất hiện của khu tổ hợp nhà máy sản xuất ô tô VinFast rộng 335 ha tại Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải (Hải Phòng) chứng tỏ một tầm nhìn khác biệt khi ngay từ đầu đã chủ động xây dựng một chuỗi giá trị riêng và “lấp đầy” bằng những tên tuổi quốc tế hàng đầu như BMW, Pininfarina, Magna Steyr, AVL, Bosch, Siemens... Cũng nhờ đó mà VinFast “hút” về nhiều dự án khác giúp Hải Phòng vượt 100% kế hoạch năm 2018, khi có được hơn 2,5 tỷ USD vốn FDI, gấp 2,7 lần so với năm 2017, đứng thứ 3 sau Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Trong năm 2018, Hải Phòng thu hút được 104 dự án cấp mới đến từ 12 quốc gia và vùng lãnh thổ với số vốn đầu tư đạt 644,664 triệu USD, tăng 3 lần so với cùng kỳ năm trước; điều chỉnh tăng vốn 45 dự án, với gần 1,9 tỷ USD. Các dự án vẫn chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến - chế tạo, với 149 dự án, vốn đầu tư đạt hơn 2,5 tỷ USD.

Kết nối giao thông thu hút FDI vào khu kinh tế, KCN Hải Phòng

Cũng phải nói, nền kinh tế của thành phố cảng này được hỗ trợ bởi sự phát triển và hoàn thành một loạt các cơ sở hạ tầng quan trọng như cao tốc Hạ Long – Hải Phòng, Cầu Vũ Yên I, khu công nghiệp (KCN), Cảng container quốc tế Hải Phòng. 

Mặt khác, Hải Phòng đã áp dụng nhiều chính sách ưu đãi đối với nhà đầu tư nước ngoài trên địa bàn (các cơ chế ưu đãi về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân dành cho khu kinh tế ven biển), nên đã thu hút đầu tư tốt. Bên cạnh tập trung đẩy nhanh tốc độ triển khai dự án cơ sở hạ tầng tại Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, KCN Tràng Duệ, KCN Đình Vũ, KCN hỗ trợ chuyên sâu dành cho các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc, ông Phạm Văn Mợi, Trưởng ban Ban quản lý Khu kinh tế Hải Phòng chia sẻ.

Dự kiến trong năm 2019, Hải Phòng tiếp tục khởi công 11 dự án lớn trọng điểm  khác, góp phần nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng giao thông của thành phố, tạo nên các huyết mạch giao thương với các tỉnh thành; tập trung cao thực hiện kết nối giao thông, có thể nghiên cứu xây cầu Bến Rừng nối Hải Phòng - Quảng Ninh để phát triển các vùng kinh tế… nhằm tạo thêm nhiều hấp lực mới với các chủ đầu tư. 

Những điều đó giúp Hải Phòng đã và đang thu hút một lượng lớn các chuyên gia đến sinh sống và làm việc tại thành phố. Theo báo cáo nghiên cứu thị trường bất động sản Hải Phòng vừa được Savills Việt Nam công bố, trong năm 2018,  khách du lịch công tác nắm vai trò quan trọng trong việc cải thiện tình hình hoạt động của phân khúc khách sạn và duy trì sự ổn định của phân khúc căn hộ dịch vụ.

Theo đó, hiện Hải Phòng có tổng số 14 khách sạn 3-5 sao, cung cấp khoảng 1.400 phòng. Trong năm 2018, công suất phòng trung bình tăng 5 điểm % theo năm. Doanh thu phòng trung bình của các khách sạn 5 sao đạt 63 USD/phòng/đêm, gấp đôi phân khúc  4 sao và gấp 4 lần phân khúc 3 sao. Trong khi, phân khúc căn hộ dịch vụ tại Hải Phòng ghi nhận hoạt động ổn định tại 16 dự án. Công suất trung bình đạt 96% và giá thuê đạt 21 USD/m2/tháng. Doanh thu phòng trung bình đạt  20 USD/m2/tháng.

Bà Đỗ Thị Thu Hằng, Phó giám đốc - Trưởng bộ phận Nghiên cứu Savills Hà Nội cho biết, khách hàng chính của phân khúc khách sạn và căn hộ dịch vụ tại Hải Phòng là cán bộ, nhân viên và chuyên gia nước ngoài đến đây công tác. Khách du lịch công tác đến Hải Phòng tăng trưởng bền vững trong nhiều năm qua do tăng trưởng kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng và công nghiệp cảng.

Căn hộ dịch vụ là phân khúc có hoạt động luôn ổn định ở mức tốt với công suất cao. Nguồn cầu lớn nhất đến từ khách thuê người châu Á, cụ thể là Nhật Bản và Hàn Quốc, hai quốc gia có số vốn FDI lớn vào Hải Phòng. Nhu cầu lớn, công suất cao về căn hộ dịch vụ đã thu hút các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào thị trường này, trong đó có thể kể đến 2 nhà điều hành quốc tế quản lý các dự án hạng A và một chủ đầu tư Nhật Bản sẽ phát triển một dự án căn hộ dịch vụ trong tương lai.

Tuy nhiên, với các khách có ngân sách hạn chế, giá thuê khoảng dưới 1.000 USD/tháng thì Hải Phòng chưa có sản phẩm dịch vụ lưu trú phù hợp.

Thực trạng này cho thấy tiềm năng và dư địa phát triển của các sản phẩm mới cho thị trường này như căn hộ bán để cho thuê, sản phẩm nhà ở tích hợp công nghệ như Airbnb... Đã đến lúc Hải Phòng cần làm mới mình để đón những xu hướng mới của thị trường.

Bài và ảnh Đoàn Trần

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550