Bộ Tài chính đề nghị xóa 26.500 tỷ đồng nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt

16:51 | 05/03/2018

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo tờ trình về dự án Nghị quyết của Quốc hội về xử lý xóa nợ, khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt không có khả năng thu hồi; với tổng số nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đề nghị xóa ước khoảng 26.500 tỷ đồng.

Vì sao phải xử lý?

Bộ Tài chính cho biết, giải pháp xoá nợ thuế hiện nay chưa bao quát được hết thực trạng kinh doanh, chưa xử lý được tồn tại về nợ thuế không thể thu hồi được phát sinh do những nguyên nhân khách quan cũng như chưa phản ánh hết công tác quản lý nợ thuế mà ngành thuế, Hải quan được giao thực hiện theo quy định của Luật quản lý thuế.

Cụ thể, từ 11/7/2007 đến 31/12/2013, nền kinh tế trong nước liên tục gặp nhiều khó khăn, thách thức trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp; sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn cùng với thiên tai, hoả hoạn, tai nạn liên tiếp xảy ra đã ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân. Do đó, nhiều người nộp thuế kinh doanh thua lỗ. Bên cạnh đó, nhiều người nộp thuế lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, phải hoạt động cầm chừng, tạm ngừng hoạt động hoặc thậm chí giải thể, phá sản nhưng không thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục ngừng kinh doanh, giải thể, phá sản.

Vì vậy, số nợ thuế đã phát sinh từ trước thời điểm mất khả năng thanh toán, ngừng kinh doanh (mặc dù cơ quan thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhưng không thu hồi được tiền thuế nợ) liên tục tăng thêm do phát sinh tiền chậm nộp thuế (tính 0,05%/ngày, khoảng 18,3%/năm) trong khi người nộp thuế đã ngừng kinh doanh, giải thể, phá sản.

Trong khi đối với cơ quan Hải quan, đa số nợ thuế khó thu còn tồn đọng đến nay là nợ phát sinh trước khi Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có hiệu lực thi hành (trước 1/1/2006 - chiếm 71% tổng nợ), thời điểm này doanh nghiệp được nợ thuế mà không ràng buộc điều kiện phải là doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật thuế như Luật Quản lý thuế nên có một số doanh nghiệp chây ỳ, không nộp thuế đúng hạn, sau đó bỏ trốn, hoặc tự giải thể. Vì vậy, không còn đối tượng để cơ quan Hải quan thu đòi nợ thuế hoặc áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Do đó, đến thời điểm hiện nay số nợ thuế của các doanh nghiệp tự giải thể, phá sản, bỏ địa chỉ sản xuất kinh doanh vẫn chưa được xử lý dứt điểm.

Không chỉ vậy, nhiều người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng vốn ngân sách nhà nước (NSNN) hoặc có nguồn từ NSNN nhưng chưa được thanh toán nên không có nguồn nộp kịp thời…

Theo Bộ Tài chính, trong những trường hợp nêu trên, mặc dù nhiều người nộp thuế đã tuân thủ pháp luật, nỗ lực nộp thuế, cơ quan thuế đã thực hiện đầy đủ các biện pháp quản lý thu nợ thuế theo quy định nhưng do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan ngoài ý muốn, họ vẫn còn nợ tiền chậm nộp thuế. Số nợ tiền chậm nộp này hạch toán vào thu nhập sau thuế TNDN khiến doanh nghiệp chịu lỗ kéo dài, ăn vào vốn dẫn đến giải thể, phá sản, chấm dứt kinh doanh.

Ngoài ra còn những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai các quy định hiện hành của Luật quản lý thuế, Luật doanh nghiệp dẫn đến số tiền thuế nợ, tiền chậm nộp, tiền phạt tồn đọng của nhiều năm đến nay còn lớn.

Từ tình hình thực tế nêu trên,  Bộ Tài chính trình Chính phủ báo cáo Quốc hội ban hành Nghị quyết xử lý nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt không có khả năng thu hồi.

Theo Bộ Tài chính, tính đến ngày 31/12/2017 tổng số nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt do ngành thuế quản lý là 73.145 tỷ đồng, giảm 2.108 tỷ đồng (tương ứng 2,8%) so với 31/12/2016. Trong đó: Tiền thuế nợ đến 90 ngày và trên 90 ngày là 26.002 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 35,5% tổng số tiền thuế nợ (các khoản nợ thuế, phí là 18.120 tỷ đồng; Các khoản nợ liên quan về đất là 7.882 tỷ đồng); Tiền phạt và tiền chậm nộp là 15.674 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 21,4% tổng số tiền thuế nợ; Tiền thuế nợ của người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, liên quan đến trách nhiệm hình sự, đã tự giải thể, phá sản, ngừng, nghỉ và bỏ địa chỉ kinh doanh không có khả năng thu hồi là 31.469 tỷ đồng (tiền thuế nợ gốc là 19.196 tỷ đồng; tiền phạt và tiền chậm nộp là 12.273 tỷ đồng), chiếm tỷ trọng 43% tổng số tiền thuế nợ, chiếm khoảng 3,2% tổng số thu nội địa năm 2017. Đặc biệt, các khoản tiền thuế nợ đã quá 10 năm (trước 01/7/2007 Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành) là 7.500 tỷ đồng.

Tổng số nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt tính đến ngày 31/12/2017 do ngành Hải quan quản lý là 5.474 tỷ đồng, tăng 23,5% so với thời điểm 31/12/2016. Trong đó, tiền thuế nợ có khả năng thu là 1.305 tỷ đồng; tiền thuế nợ chờ xử lý là 291,13 tỷ đồng; tiền thuế nợ không có khả năng thu là 3.878 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 71% tổng nợ của toàn ngành Hải quan quản lý.

Như vậy, tổng số nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt tính đến ngày 31/12/2017 của các khoản nợ thuế không thể thu hồi được phát sinh do những nguyên nhân khách quan do cơ quan thuế và cơ quan Hải quan quản lý khoảng 35.347 tỷ đồng, chiếm khoảng 2,75% tổng số thu thuế, phí, lệ phí năm 2017 và chiếm gần 44,9% tổng số nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt tính đến ngày 31/12/2017 là 78.619 tỷ đồng.

Đề nghị xóa 26.500 tỷ đồng nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt không có khả năng thu hồi

Qua tổng kết tình hình thực hiện quản lý nợ thuế và tham khảo, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế (báo cáo tổng kết, đánh giá và báo cáo kinh nghiệm quốc tế trình kèm), Bộ Tài chính đề nghị xử lý xóa nợ, khoanh các khoản nợ không còn đối tượng để thu, không có khả năng thu hồi.

Thứ nhất, khoanh nợ (tạm thời chưa thu và không tính tiền chậm nộp thuế) đối với người nộp thuế nợ tiền thuế đã chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh quá 01 năm, cơ quan đăng ký kinh doanh đã thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Cụ thể, Bộ Tài chính đề nghị Chính phủ báo cáo Quốc hội cho phép: Khoanh nợ (tạm thời chưa thu và không tính tiền chậm nộp thuế) từ ngày 1/1/2018 đối với người nộp thuế nợ tiền thuế đã chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh quá 01 năm, cơ quan đăng ký kinh doanh đã thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề. Thời gian không tính tiền chậm nộp tính từ ngày cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề. Cơ quan quản lý thuế thực hiện tính tiền chậm nộp và thu vào ngân sách đối với khoản tiền chậm nộp trên khi người nộp thuế quay lại hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thứ hai, xóa nợ tiền chậm nộp do nguyên nhân khách quan bất khả kháng.

Bộ Tài chính trình Chính phủ thực hiện xóa nợ tiền chậm nộp do nguyên nhân bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan như sau:

Một là, xóa nợ tiền chậm nộp đối với người nộp thuế cung ứng hàng hóa, dịch vụ được thanh toán bằng vốn NSNN, hoặc có nguồn từ NSNN nhưng chưa được thanh toán nên không nộp kịp thời các khoản thuế dẫn đến phát sinh tiền chậm nộp, tiền phạt chậm nộp (bao gồm cả nhà thầu phụ). Theo đó, số tiền chậm nộp đề nghị xóa tính đến 31/12/2015 là 542,525 tỷ đồng.

Hai là, xóa nợ tiền chậm nộp thuế của các khoản nợ thuế phát sinh trước ngày 1/1/2018 của người nộp thuế gặp thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc trường hợp khó khăn bất khả kháng. Mức xóa tiền chậm nộp thuế, không vượt quá giá trị thiệt hại.

Tổng số nợ tiền chậm nộp do những nguyên nhân khách quan trình bày ở trên tính đến thời điểm 31/12/2017 ước khoảng 1.700 tỷ đồng.

Ba là, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với những trường hợp không còn khả năng thu. Theo đó, Bộ Tài chính đề nghị xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với những trường hợp không còn khả năng thu do người nộp thuế thực tế đã giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh, thực tế không còn hoạt động sản xuất kinh doanh trước ngày 1/1/2017 mà không còn khả năng nộp ngân sách và đã được cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Cụ thể, đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, Bộ Tài chính đề xuất: Thủ tướng Chính phủ quyết định xoá nợ đối với trường hợp người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt từ 10 tỷ đồng trở lên; Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định xoá nợ đối với trường hợp người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt từ 5 tỷ đồng đến dưới 10 tỷ đồng; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định xoá nợ đối với trường hợp người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt dưới 5 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, để bảo đảm chặt chẽ, trong việc xóa nợ, trường hợp người sáng lập doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của tổ chức tiếp tục đăng ký thành lập tổ chức kinh doanh khác, Bộ Tài chính đề nghị quy định chế tài trong 2 năm tiếp theo kể từ ngày thực hiện xóa nợ, chủ sở hữu doanh nghiệp, người sáng lập doanh nghiệp,người đại diện theo pháp luật không được thành lập doanh nghiệp mới/không được kinh doanh, trừ trường hợp người nộp thuế thực hiện nộp đủ số tiền thuế theo quyết định xóa nợ vào ngân sách nhà nước.

Đối với hộ, cá nhân bỏ kinh doanh, Bộ Tài chính đề nghị xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt của hộ, cá nhân kinh doanh đã ngừng kinh doanh trước ngày 01/01/2017. Việc tổ chức thực hiện do Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định xóa nợ trên cơ sở đề nghị của cơ quan quản lý thuế sau khi phối hợp với cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh, UBND cấp xã, phường và Hội đồng tư vấn thuế xã, phường nơi có địa chỉ đăng ký kinh doanh xác minh hộ, cá nhân kinh doanh đã chấm dứt hoạt động kinh doanh ở địa chỉ kinh doanh, cơ quan đăng ký kinh doanh đã thực hiện thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế đã thực hiện cưỡng chế nợ thuế theo quy định của Luật quản lý thuế.

Tổng số nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đề nghị xóa do người nộp thuế thực tế đã giải thể, phá sản, bỏ kinh doanh trước ngày 1/1/2017 là 24.302 tỷ đồng; trong đó của người nộp thuế là doanh nghiệp, tổ chức khoảng 22.299 tỷ đồng và của hộ, cá nhân đã bỏ kinh doanh là 2.003 tỷ đồng.

Như vậy, với các đề xuất xử lý xóa nợ nêu trên thì tổng hợp lại tổng số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đề nghị xóa ước khoảng 26.500 tỷ đồng.

Lê Thành

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
8,50
8,50
8,70
8,70
LienVietPostBank
-
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.295 23.595 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.258 23.618 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.280 23.610 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.300 23.580 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.263 23.648 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.299 23.620 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.700
67.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.700
67.500
Vàng SJC 5c
66.700
67.520
Vàng nhẫn 9999
54.000
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.700
54.700