Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ: Lãi suất cao hơn sẽ tốt cho đất nước

08:27 | 07/06/2021

Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Janet Yellen mới đây đã nói rằng Tổng thống Joe Biden nên thúc đẩy kế hoạch chi tiêu 4 nghìn tỷ đô la của mình ngay cả khi chúng thúc đẩy lạm phát kéo dài sang năm tới và lãi suất phải tăng cao hơn.

bo truong bo tai chinh my lai suat cao hon se tot cho dat nuoc
Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Janet Yellen

“Nếu chúng ta kết thúc (quá trình phục hồi lại nền kinh tế) với một môi trường lãi suất cao hơn thì đó sẽ là một điểm cộng trong quan điểm của xã hội và quan điểm của Fed”, Yellen nói hôm Chủ nhật trong một cuộc phỏng vấn với Bloomberg News, sau hội nghị Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhóm G7 ở Luân Đôn (Anh).

Cuộc tranh luận vẫn đang duy trì xoay quanh câu chuyện lạm phát đã gia tăng trong những tháng gần đây, giữa một bên là những người như Yellen cho rằng sự tăng giá hiện tại đang được thúc đẩy bởi những yếu tố bất thường nhất thời do đại dịch gây ra, chẳng hạn như tắc nghẽn chuỗi cung ứng và sự gia tăng chi tiêu khi các nền kinh tế mở cửa trở lại, và một bên là những người chỉ trích việc chi tiêu hàng nghìn tỷ USD viện trợ của chính phủ có thể thúc đẩy chi phí tăng đột biến kéo dài.

Các gói cứu trợ của Biden sẽ làm tăng thêm khoảng 400 tỷ đô la chi tiêu chính phủ mỗi năm, theo Yellen, số tiền đó không đủ để gây ra lạm phát quá mức. “Bất kỳ sự“ tăng vọt ”nào về giá cả do gói giải cứu sẽ biến mất vào năm tới, bà nói.

“Chúng ta đã mất một thập kỷ để chống lại việc lạm phát quá thấp và lãi suất hiện tại cũng đang quá thấp”, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nói và bổ sung rằng: “Chúng tôi muốn họ quay trở lại“ môi trường lãi suất bình thường, ”và nếu điều này sau đó sẽ giúp giảm bớt mỗi thứ một chút thì nó không phải là một điều xấu - đó là một điều tốt".

Thước đo chính về lạm phát - chỉ số giá tiêu dùng cá nhân tại Mỹ - đã tăng 4,2% so với cùng kỳ trong tháng Tư, và dữ liệu tháng Năm sẽ được công bố vào thứ Năm tuần này.

Fed đã cam kết chỉ bắt đầu giảm tốc độ mua tài sản, hiện ở mức 120 tỷ đô la mỗi tháng, sau khi có “tiến bộ đáng kể hơn nữa” về lạm phát và việc làm.

Chủ tịch Fed Jerome Powell, người kế nhiệm quyền điều hành ngân hàng trung ương từ Yellen vào năm 2018, đã tìm cách thuyết phục các nhà đầu tư rằng ông ấy sẽ không xem xét rút lại hỗ trợ cho nền kinh tế sớm. Powell và các đồng nghiệp của ông vẫn tiếp tục cam kết lãi suất cơ bản của họ sẽ được duy trì ở mức gần bằng 0 cho đến năm 2023.

Theo báo cáo của Bộ Lao động Mỹ hôm thứ Sáu, tăng trưởng việc làm và lương người lao động của nước này đã cải thiện hơn trong tháng Năm, với tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 5,8%.

“Tôi sẽ không từ bỏ việc thúc đẩy các gói cải thiện hạ tầng tiếp theo”, Yellen nói. "Chúng không có nghĩa là kích thích, chúng được coi là đầu tư để giải quyết các nhu cầu lâu dài của nền kinh tế chúng ta".

Các bộ trưởng tài chính và chủ tịch ngân hàng trung ương Nhóm G7 đã tổ chức một cuộc điện đàm vào ngày 28/5, trong đó có thảo luận về quan điểm của Yellen về lạm phát, theo một quan chức Bộ Tài chính. Nhóm này cuối cùng đã đồng ý với đánh giá của bà rằng giá cả tăng đột biến trong năm có thể chỉ là tạm thời.

Yellen nói rằng các nhà hoạch định chính sách tiền tệ có thể xử lý bất kỳ sự gia tăng tiềm ẩn nào của lạm phát nếu nó còn tiếp tục diễn ra.

“Tôi hiểu Fed, họ rất có năng lực”, Yellen nói trong cuộc phỏng vấn. "Tôi không tin rằng họ sẽ thất bại".

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.825 23.045 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.842 23.054 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.827 23.047 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.150
Vàng SJC 5c
56.550
57.170
Vàng nhẫn 9999
52.550
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.150
52.850