BOJ giữ nguyên chính sách điều hành và sẽ xem xét thay đổi nếu rủi ro gia tăng

15:43 | 19/09/2019

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) vừa tuyên bố giữ chính sách kích thích tiền tệ như hiện tại và có kế hoạch tái đánh giá lại giá cả và tình hình kinh tế tại cuộc họp tháng 10 sắp tới. Quyết định của BOJ được đưa ra chỉ sau vài giờ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Fed tuyên bố cắt giảm lãi suất.

Việc BOJ giữ nguyên lãi suất chính sách và kế hoạch mua lại tài sản ở mức hiện tại, được công bố hôm thứ Năm, là phù hợp với quan điểm của 3/4 số chuyên gia kịnh tế đưa ra tại cuộc khảo sát bởi Bloomberg trước đó.

Trụ sở BOJ

BOJ sẽ xem xét lại tình hình kinh tế và lạm phát tại cuộc họp tiếp theo bắt đầu từ ngày 30/10, theo như cơ quan này cho biết. Trước đó, một đánh giá toàn diện năm 2016 đã dẫn đến việc định hình khung chính sách hiện tại về điều hành theo đường cong lợi suất. Hôm thứ Năm, ngân hàng trung ương này cũng cảnh báo về việc cần phải chú ý hơn đến nguy cơ “mất đà” lạm phát để tiệm cận mục tiêu 2%.

Tuyên bố về kế hoạch đánh giá lại nêu trên của BOJ được đưa ra sau khi các ngân hàng trung ương trên toàn cầu chuyển mạnh sang quan điểm điều hành hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và chống lại rủi ro gia tăng. Những động thái này của các ngân hàng trung ương đã làm tăng kỳ vọng rằng BOJ có thể sẽ “học theo”, một phần để ngăn đồng yên mạnh lên so với USD, có thể sẽ ảnh hưởng đến nỗ lực kiềm chế lạm phát.

Tuần trước, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã cắt giảm lãi suất và trở lại mua trái phiếu.

Tuy nhiên, nhiều người theo dõi động thái của BOJ nhận thấy dư địa chính sách của ngân hàng trung ương này đã cạn kiệt, trong khi các hiệu ứng từ chương trình kích thích tiền tệ bắt đầu lan tỏa. Vì vậy, một sự “đảo ngược” tăng giá của đồng yên trong những tuần gần đây có thể đã giúp cho Thống đốc BOJ Haruhiko Kuroda có lý do để giữ nguyên chính sách điều hành trong ít nhất một thời gian nữa.

“Chiến lược cơ bản của BOJ là kiên nhẫn và tiếp tục chương trình kích thích hiện tại”, ông Yas Yasunari Ueno, chuyên gia kinh tế thị trường tại Mizuho Securities Co., cho biết trước khi quyết định của BOJ được công bố.

Hồi tháng 7, Thống đốc Haruhiko Kuroda đã nói rằng, ngân hàng trung ương có vẻ đã hơi “mạnh tay” đối với việc tăng kích thích kinh tế, nhưng quyết định hôm thứ Năm cho thấy sự kiên nhẫn từ giám đốc ngân hàng trung ương, người từ lâu đã nhấn mạnh rằng bản thân luôn có sự sẵn sàng để có hành động “phủ đầu” trước mọi diễn biến.

Tuy nhiên, BOJ nhắc lại trong tuyên bố của mình rằng cơ quan này sẽ không do dự trong việc tăng kích thích kinh tế nếu rủi ro tăng cao với việc đạt mục tiêu lạm phát 2%.

Sáng nay, đồng yên đã giao dịch quanh mức 108 yên đổi 1 USD - mức cao nhất kể từ tháng 11/2016. Các nhà kinh tế cho rằng việc đồng yên ở ngưỡng 100 là tác nhân khiến ngân hàng trung ương cắt giảm lãi suất âm.

Một vấn đề đau đầu khác đối với điều hành chính sách của BOJ đã giảm bớt, lợi suất trái phiếu chính phủ 10 năm của Nhật Bản đang giao dịch trong phạm vi mục tiêu của BOJ. Trước đó, nó đang ở mức thấp nhất trong ba năm là -0,295%, mức độ mà một số quan chức BOJ cho biết gần như cần phải có những hành động để cải thiện tình hình.

Tuy nhiên, những thách thức cơ bản dành cho BOJ vẫn tồn tại. Lạm phát ở mức 0,6% trong tháng 7, cách rất xa mục tiêu 2% của BOJ. Xuất khẩu đã giảm hàng tháng trong năm nay. Và một đợt tăng thuế sản phẩm có hiệu lực vào tháng tới ​​sẽ đánh vào nhu cầu mua sắm trong nước, vốn từng giúp duy trì tăng trưởng trong thời kỳ xuất khẩu sụt giảm.

Đại Hùng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.170 23.350 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.145 23.335 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.160 23.330 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.157 23..367 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.150 23.350 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.160 23.330 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.200 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.500
48.860
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.500
48.840
Vàng SJC 5c
48.500
48.860
Vàng nhẫn 9999
47.790
48.390
Vàng nữ trang 9999
47.340
48.140