Bức tranh thương mại Trung - Nga vẫn sáng màu

08:13 | 02/03/2022

Đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết, thương mại của nước này với cả Nga và Ukraine sẽ vẫn “bình thường”.

Vài giờ sau khi xảy ra cuộc xung đột Nga - Ukraine, Mỹ, Anh và Liên minh châu Âu đã công bố các biện pháp trừng phạt mới nhằm cô lập Matxcơva khỏi nền kinh tế toàn cầu. Các biện pháp sâu rộng không bao gồm các hạn chế đối với việc mua dầu và khí đốt của Nga (lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Nga).

Mặc dù vậy tại Bắc Kinh, đại diện Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết, thương mại của nước này với cả Nga và Ukraine sẽ vẫn “bình thường”. Trong khi đó, cơ quan hải quan Trung Quốc đã chấp thuận nhập khẩu lúa mì từ Nga.

buc tranh thuong mai trung nga van sang mau
Chỉ số chứng khoán chính của Matxcơva - MOEX đã giảm sâu ngay khi xảy ra xung đột Nga-Ukraine

Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Nga và Ukraine. Cả hai nước đều là một phần của Sáng kiến Vành đai và Con đường - một kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng khu vực được nhiều người coi là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm gia tăng ảnh hưởng toàn cầu.

Theo đại diện cơ quan Hải quan Trung Quốc, thương mại giữa Trung Quốc và Nga đạt mức cao kỷ lục, 146,9 tỷ USD vào năm 2021, tăng 35,8% so với cùng kỳ năm ngoái, nhập khẩu của Trung Quốc từ Nga đã vượt quá xuất khẩu hơn 10 tỷ USD. Tuy nhiên, từ mức xuất nhập khẩu hiện tại, thì cán cân thương mại sẽ cần phải tăng thêm 37% để đạt được mục tiêu 200 tỷ USD của Matxcơca và Bắc Kinh vào năm 2024.

Cũng theo dữ liệu của cơ quan Hải quan Trung Quốc, thương mại của Trung Quốc với Ukraine đã tăng 29,7% trong năm ngoái lên 19,31 tỷ USD vào thời điểm hiện nay, cũng là mức cao kỷ lục và cân bằng giữa xuất và nhập khẩu.

Bà Hua Chunying - trợ lý Ngoại trưởng Trung Quốc cho biết, Trung Quốc và Nga là đối tác chiến lược toàn diện, trong khi đó quan hệ giữa Trung Quốc và Ukraine là những đối tác hữu nghị. Vì vậy, Trung Quốc sẽ tiến hành hợp tác thương mại bình thường trên cơ sở Năm nguyên tắc chung sống hòa bình (của Trung Quốc) đối với quan hệ quốc tế và cơ sở của mối quan hệ hữu nghị với cả hai nước. Điều này tất nhiên bao gồm cả hợp tác về năng lượng.

Hiện tại có tới 2/3 lượng hàng nhập khẩu của Trung Quốc từ Nga là các sản phẩm năng lượng. Nga là nguồn cung cấp điện lớn nhất và là nguồn cung cấp dầu thô lớn thứ hai cho Trung Quốc.

Ông Stephen Olson - nghiên cứu viên cấp cao tại Hinrich Foundation (tổ chức phi lợi nhuận tập trung vào các vấn đề thương mại) cho biết, việc Trung Quốc dỡ bỏ các hạn chế đối với nhập khẩu lúa mì và lúa mạch của Nga rõ ràng là nhằm bù đắp tác động của các lệnh trừng phạt.

Trong một thông báo chính thức, phía Trung Quốc cho biết hai nước cần tăng cường quan hệ đối tác chiến lược về năng lượng và thúc đẩy hợp tác về đổi mới khoa học và công nghệ. Cùng trong thời điểm này, hai tập đoàn năng lượng khổng lồ của Nga là Gazprom và Rosneft đã ký các thỏa thuận với Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc để cung cấp dầu và khí đốt tự nhiên cho Trung Quốc.

Tuy nhiên hiện thị phần của Trung Quốc và Nga trong nền kinh tế toàn cầu thấp hơn nhiều so với Nhóm G7, bao gồm cả Mỹ, Đức. Điều đó có nghĩa là thương mại với Trung Quốc không thể bù đắp toàn bộ tác động của các lệnh trừng phạt đối với Nga. Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, Trung Quốc chiếm 17,3% GDP toàn cầu vào năm 2020, so với 1,7% của Nga và 45,8% của G7, Thư ký báo chí Mỹ Jen Psaki phát biểu với các phóng viên tại Washington.

Hơn nữa, tại thời điểm này, phương Tây vẫn để ngỏ nhiều khả năng có thể áp dụng. Theo bà Lily Adams - Phát ngôn viên Bộ Tài chính Mỹ, một số trừng phạt của Mỹ được đưa ra, trong đó có việc ngăn chặn các ngân hàng Nga sử dụng hệ thống thanh toán toàn cầu SWIFT sẽ ngăn chặn nguồn tài chính xuyên biên giới.

Một diễn biến quan trọng là ngay khi chiến dịch quân sự đặc biệt nhằm vào Ukraine nổ ra, đồng Rúp của Nga giảm xuống mức thấp kỷ lục so với đô la Mỹ (đồng đô la Mỹ đã tăng hơn 10% so với đồng tiền Nga). Chỉ số chứng khoán chính của Matxcơva - MOEX đã giảm sâu sau khi giao dịch tạm thời bị đình chỉ, đây là mức giảm kỷ lục trong một tuần qua.

Thái Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.210 23.520 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.225 23.505 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.220 23.520 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.200 23.490 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.260 23.480 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.480 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.255 23.707 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.234 23.520 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.210 23.490 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.280 23.530 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.650
68.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.650
68.250
Vàng SJC 5c
67.650
68.270
Vàng nhẫn 9999
52.200
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.750