Các ngân hàng Anh kêu gọi chính phủ giảm bớt gánh nặng thuế khi Brexit cận kề

10:01 | 30/10/2019

Lĩnh vực ngân hàng ở Anh đã nộp khoảng 40 tỷ bảng (52 tỷ USD) tiền thuế trong năm tài chính vừa qua trong đó khoảng một nửa đến từ các nhà băng nước ngoài, cho thấy sự cần thiết phải suy tính lại về thuế để giữ cho London duy trì sự cạnh tranh sau Brexit, tờ UK Finance cho biết hôm thứ Tư.

Sẽ lui thời điểm Brexit
Goldman Sachs: Bảng Anh có thể lên giá tới 1,35 USD, vì Brexit "hạ nhiệt"

Các ngân hàng và nhân viên của họ đã trả tổng cộng 39,7 tỷ bảng tiền thuế, tương đương 5,5% các khoản thu của chính phủ, không thay đổi so với năm trước, UK Finance cho biết trong một đánh giá được tổng hợp bởi các chuyên gia tư vấn PwC.

Cơ cấu thu thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế - phụ thu từ ngành ngân hàng

Thuế suất tăng lên trong giai đoàn vừa qua gần như được phân chia đồng đều giữa những nhân viên được trả lương, thuế thu nhập doanh nghiệp, phụ thu từ lợi nhuận và thuế gắn với dư nợ cho vay của ngân hàng.

Phụ thu và thuế được áp dụng sau khi Anh phải bảo lãnh cho những người cho vay bằng tiền công trong cuộc khủng hoảng tài chính một thập kỷ trước.

Khả năng cạnh tranh của ngành tài chính Anh đã giảm so với các trung tâm tài chính toàn cầu khác như New York, nơi các ngân hàng được hưởng lợi từ việc cắt giảm thuế doanh nghiệp gần đây, bản đánh giá cho biết.

Nhiều ngân hàng hoạt động tại Anh đã mở các trung tâm hoạt động của mình tại Liên minh châu Âu tại các thành phố như Frankfurt để đảm bảo dịch vụ liên tục cho khách hàng EU sau khi Anh rời khỏi khối (Brexit).

Các ngân hàng Anh đang chuyển khoảng một nghìn tỷ euro tài sản từ London sang các công ty con mới của họ, điều này có khả năng dẫn đến việc mất một số doanh thu thuế của Vương quốc Anh.

Bản đánh giá ước tính rằng tổng thuế suất đối với các ngân hàng ở London là 47,1%, trong khi chỉ 44,7% ở Frankfurt và 33,5% ở New York.

“Trong bối cảnh này, việc duy trì khả năng cạnh tranh của chính sách tài khóa là quan trọng hơn bao giờ hết”, bản đánh giá cho biết. “Điều này cũng rất quan trọng để đảm bảo một thị trường ngân hàng nội địa lành mạnh, có thể tiếp tục cung cấp tín dụng để hỗ trợ sự phát triển trong tương lai của nền kinh tế Anh”.

Bản đánh giá cũng cho thấy sự sụt giảm số lượng nhân viên tại các ngân hàng có trụ sở tại Vương quốc Anh do tái cấu trúc và xu hướng chuyển dịch khi khách hàng sử dụng ngân hàng trực tuyến và di động nhiều hơn.

Trong khi các ngân hàng có trụ sở ở nước ngoài thuê thêm nhân viên để chuẩn bị sẵn sàng cho Brexit, thực hiện các thay đổi kết nối trong ứng dụng công nghệ thông tin, bản đánh giá cho biết. Tổng cộng, toàn bộ khu vực ngân hàng đã tuyển dụng 342.413 người.

Trong khi đó, rạng sang nay theo giờ Việt Nam, Hạ viện Anh đã thông qua việc Vương quốc Anh sẽ tổ chức một cuộc bầu cử khẩn cấp trong sáu tuần tới, trong một cuộc thăm dò quan trọng sẽ định hình vận mệnh của đất nước trong nhiều thập kỷ tới.

Công đảng cho biết sẽ bắt đầu cuộc tranh cử với tham vọng mang lại những thay đổi thực sự tốt đẹp cho tương lai của nước Anh.

Ở phía ngược lại, Thủ tướng Johnson muốn chiến thắng cuộc bầu cử và chiếm được đa số sự ủng hộ của các cử tri, nhằm thông qua thỏa thuận Brexit mà ông đạt được với EU trong những ngày qua. Quyết định này phải được phê chuẩn tại Thượng viện vào hôm nay trước khi có hiệu lực, nhưng hiện tại các chuyên gia đều thống nhất việc bầu cử sớm gần như chắc chắn sẽ được thông qua.

M.Hồng

Nguồn:

Tags: Brexit

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950