Các ngân hàng luôn hướng tới “đường dài”

09:18 | 14/04/2021

Cuối cùng, sau bao lần lỡ hẹn, chỉ số VN-Index của thị trường chứng khoán Việt Nam đã phá đỉnh thành công. Dòng cổ phiếu ngân hàng tạo động lực quan trọng.

Trước những cơ hội mở

Cùng thời điểm, các doanh nghiệp nói chung và khối ngân hàng thương mại (NHTM) bước vào mùa đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2021. Những tính toán đường dài của các nhà băng tiếp tục định hình.

Đã 13 năm qua, hệ thống NHTM Việt Nam không có thêm thành viên nội địa nào được thành lập mới. Sau khi cấp phép thêm một số trường hợp, năm 2008 đánh dấu số lượng các NHTM trong nước đạt đỉnh, gồm 5 thành viên có vốn Nhà nước chi phối và 40 NHTM cổ phần.

Đến nay, quy mô trên chỉ còn 4 NHTM do Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ, 3 ngân hàng mua bắt buộc và đặc biệt chỉ còn 28 NHTMCP. Như vậy, số lượng NHTM Việt Nam đang dần thu hẹp đi qua quá trình tái cơ cấu từ năm 2011 đến nay, và chưa dừng lại. Điều này có ảnh hưởng lớn đối với hệ thống các NHTM và cả nền kinh tế.

cac ngan hang luon huong toi duong dai
MB dự kiến tăng mạnh vốn điều lệ lên gần 40% trong năm 2021

Dễ nhận thấy, với số lượng không nhiều khi không có thành viên thành lập mới, cơ hội mở rộng thị phần trở nên lớn hơn với những NHTM hiện hữu. Cơ hội đó đã, đang và không ngừng mở rộng.

Đơn cử, 13 năm trước có 45 NHTM Việt Nam đối ứng với quy mô nền kinh tế chỉ hơn 1,6 triệu tỷ đồng GDP. Nay, chỉ còn 35 thành viên đối ứng với khoảng 6,2 triệu tỷ đồng quy mô GDP ước tính sơ bộ cuối năm 2020.

Sát sườn hơn, năm 2008, cùng tương quan số lượng trên chỉ có khoảng 1,4 triệu tỷ đồng tín dụng toàn hệ thống; đến cuối năm 2020 đã lên tới khoảng 9,2 triệu tỷ đồng.

Tương tự, dân số Việt Nam năm 2008 có khoảng 86,2 triệu người thì nay hệ thống ngân hàng có số lượng thành viên ít hơn nhiều nhưng có trường tiếp cận của quy mô khoảng 97,5 triệu người.

Hay ở một xu hướng đang bùng nổ là quá trình chuyển đổi số và không gian ngân hàng số hiện nay. Nếu 2008 nhiều thành viên vẫn còn chật vật đầu tư, chuyển đổi hệ thống ngân hàng lõi, Internet Banking và Mobile Banking còn khá sơ khởi, thì nay có thể nói là một sự choáng ngợp.

Không cần lùi về 13 năm trước, mà chỉ giai đoạn 5 năm gần đây, hệ thống đã ghi nhận cấp độ tăng trưởng tầm nghìn phần trăm trong công tác số hóa. Cụ thể, số liệu từ NHNN cho thấy, tính đến tháng 10/2020, so với 5 năm trước, số lượng và giá trị thanh toán qua kênh Internet đã tăng 276,4% và 343%; đặc biệt số lượng và giá trị thanh toán qua kênh điện thoại di động tăng tới 1.037% và 972,5%.

Trở lại với bối cảnh chỉ số VN-Index phá đỉnh, nhà đầu tư hẳn không phải quá hào phóng hay cảm tính với dòng cổ phiếu ngân hàng. Họ có cơ sở tính toán khi nhìn thấy cơ hội rộng mở trên. Tất nhiên, nắm được hay không còn tùy thuộc vào năng lực và tầm nhìn của mỗi NHTM.

Năng lực chiếm lĩnh, tính đường dài

Kết thúc năm 2020, hệ thống NHTM Việt Nam tiếp tục được “sàng lọc” bởi các tiêu chí cơ bản: mức độ hoàn tất tiêu chuẩn Basel II, xử lý nợ tại VAMC, tỷ lệ trích lập dự phòng bao nợ xấu (nhất là trong bối cảnh môi trường tiềm ẩn rủi ro bởi dịch Covid-19)…

Nếu theo những tiêu chí trên, Vietcombank, MB, Techcombank… đã sớm đạt đích từ nhiều năm trước. Trong đó có một kết quả đáng chú ý: Vietcombank đã có tỷ lệ trích lập dự phòng bao nợ xấu lên tới khoảng 380%; hay MB cũng đạt tới hơn 144% đến cuối quý 1/2021. Bên cạnh sức chủ động phòng ngừa rủi ro, chỉ tiêu này có hàm ý tiềm năng hoàn nhập lợi nhuận trong tương lai.

Ngay trong quý 1/2021, nhiều NHTM đã lần lượt công bố lợi nhuận trước thuế tăng trưởng mạnh mẽ so với cùng kỳ 2020, thậm chí tính bằng lần như tại MSB, SeABank và MB; hoặc một số đạt tăng trưởng cao từ 50-70%…

Bên cạnh lợi nhuận, mở rộng quy mô tổng tài sản cũng là cuộc cạnh tranh giữa các thành viên, bởi đây là tổng hòa các thị phần. Vị thế ở đây đang quyết liệt giữa nhóm NHTM cổ phần tư nhân hàng đầu. Đến cuối 2020, MB đang dẫn đầu, sát kề là Sacombank, ACB, Techcombank và VPBank.

Tuy nhiên, thị phần và tổng tài sản sẽ trở nên hữu hạn khi cân đối với lực đỡ của vốn điều lệ. Theo đó, các NHTM tiếp tục tính đường dài trong mùa ĐHĐCĐ năm nay.

Trong khi Techcombank dự kiến tiếp tục không chia cổ tức, thì Sacombank và Eximbank đang trình NHNN để có thể tăng vốn qua trả cổ tức sau nhiều năm tạm ngừng.

Thành viên đang nắm ưu thế thị phần và tổng tài sản là MB (gần 495 nghìn tỷ đồng cuối 2020) đã tính toán phương án tăng mạnh vốn điều lệ, dự kiến tăng gần 40% năm nay. Kế hoạch định rõ, một cấu phần vốn tăng thêm sẽ tập trung đầu tư cho thị trường phía Nam; một cấu phần tiếp tục tăng cường năng lực công nghệ thông tin - điểm mà MB tạo thu hút trên thị trường những năm gần đây qua loạt dự án chuyển đổi số và mở rộng nhanh chóng hệ sinh thái ngân hàng số.

Hay tại ACB, kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm 25% đã được ĐHĐCĐ thông qua ngày 6/4, cùng tham vọng sẽ nâng tổng tài sản lên mức gần 500 nghìn tỷ đồng cuối năm nay. Đại diện lãnh đạo ACB lạc quan với kế hoạch trên, khi nhận định năm 2021 sẽ có nhiều thuận lợi, gắn với triển vọng phục hồi của kinh tế Việt Nam, với hướng mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 6-6,5% năm nay.

Nắm cơ hội phục hồi đó, một số NHTM đã nhanh chóng tăng tốc ngay trong quý đầu tiên. Bên cạnh kết quả lợi nhuận, có thể thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng tại Vietcombank đã đạt 3,7%, tại HDBank là 5,2%, hay tại MB vượt trội với khoảng 8%, MSB trên 9%... Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống cuối quý I ước đạt hơn 2%, đồng nghĩa có nhiều thành viên chưa kịp bắt nhịp.

Riêng ở chỉ tiêu quan trọng là tăng trưởng tín dụng như trên cũng cho thấy, điều kiện để nắm cơ hội đang có nhiều khác biệt giữa các thành viên.

Đức Hiền

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.140 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.940 23.140 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.929 23.139 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.130 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.940 23.120 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.940 23.120 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.939 23.151 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.930 23.130 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.940 23.120 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.960 23.120 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.170
56.540
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.170
56.520
Vàng SJC 5c
56.170
56.540
Vàng nhẫn 9999
52.600
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900