Các ngân hàng Singapore mạnh tay trả cổ tức

06:55 | 06/08/2021

Hai trong số các ngân hàng lớn nhất của Singapore vừa cho biết sẽ tăng mức chi trả cổ tức sau khi có được lợi nhuận quý II vượt dự báo nhờ giảm được dự phòng cho các khoản nợ xấu.

Theo đó, Oversea-Chinese Banking Corp (OCBC), ngân hàng lớn thứ hai của Singapore, sẽ trả cổ tức tạm thời là 25 cents cho mỗi cổ phiếu sau khi báo cáo thu nhập ròng tăng tới 59% lên 1,16 tỷ đô la Singapore (859 triệu USD). Trong khi đó, United Overseas Bank Ltd (UOB), ngân hàng lớn thứ ba của Singapore cũng đang lên kế hoạch chi 60cents cho mỗi cổ phiếu sau khi lợi nhuận tăng 43% lên 1 tỷ đô la Singapore, vượt qua ước tính trung bình chỉ 968 triệu đô la Singapore.

Lợi nhuận của cả hai ngân hàng được hỗ trợ bởi triển vọng tín dụng được cải thiện, trong đó OCBC báo cáo giảm được 69% dự phòng rủi ro cho các khoản vay và UOB báo cáo giảm được 54%. Lợi nhuận của UOB cũng được thúc đẩy nhờ thu nhập từ cho vay và phí dịch vụ từ các doanh nghiệp. “Với việc các quốc gia đang tăng tốc tiêm chủng, chúng tôi lạc quan rằng tình hình sẽ dần cải thiện ở Đông Nam Á, nhờ đó chất lượng tài sản là “có khả năng phục hồi”, Giám đốc điều hành UOB Wee Ee Cheong cho biết trong tuyên bố.

cac ngan hang singapore manh tay tra co tuc
Ảnh minh họa

Các cơ quan quản lý ở Singapore và một số nước đang nỗ lực gỡ bỏ các quy định yêu cầu các ngân hàng phải giữ lại tiền để dự phòng rủi ro khi đại dịch bùng phát mạnh trên toàn cầu vào năm ngoái, cho phép họ trả cổ tức bằng tiền mặt cho các cổ đông. Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS) ngày 28/7 vừa qua đã quyết định bỏ quy định giới hạn mức cổ tức được chi trả của các ngân hàng (theo đó quy định các ngân hàng chỉ được trả ở mức tối đa bằng 60% các mức mà ngân hàng đã chi trả năm 2019). OCBC đã trả cổ tức 15,9cents cho một cổ phiếu vào năm ngoái, trong khi mức chi trả của UOB là 39 cents.

Theo nhà phân tích Rena Kwok của Bloomberg Intelligence, chất lượng tài sản “đã được duy trì, kiểm soát tốt trong suốt đại dịch và những lo ngại về chất lượng tài sản vật chất dường như không thể xảy ra vào thời điểm này, với tỷ lệ lợi nhuận gộp ổn định ở mức 1,5% và bất kỳ sự suy giảm chất lượng tài sản nào nếu có chỉ xuất hiện vào quý II/2022”. Chuyên gia này cũng nhận định: “Các ngân hàng đã hướng dẫn chi tiết chi phí tín dụng trong thời gian còn lại của năm 2021 và chúng tôi hy vọng có thể có nhiều dư địa cho các khoản dự phòng được hoàn lại vào năm 2021 do tổng mức bảo hiểm dự phòng của các ngân hàng đang cao hơn giới hạn quy định”.

Các ngân hàng Singapore đã có sự phục hồi mạnh trong năm nay, phản ánh sự lạc quan rằng các nhà cho vay đang trỗi dậy từ suy thoái kinh tế tồi tệ nhất của Singapore trong nhiều thập kỷ. Các ngân hàng đã duy trì tỷ lệ an toàn vốn cao mặc dù mức trích lập dự phòng cao hơn trong suốt thời kỳ đại dịch. Các cổ phiếu của UOB và OCBC duy trì đà tăng tích cực trong những phiên gần đây, trước thông tin lợi nhuận tăng và MAS không còn giới hạn mức chi trả cổ tức. DBS Group Holdings, ngân hàng lớn nhất Đông Nam Á dự kiến cũng sẽ công bố báo cáo doanh thu và lợi nhuận trong tuần này.

Các nhà hoạch định chính sách kỳ vọng, kinh tế Singapore sẽ đạt được mức tăng trưởng ít nhất từ 4%-6% trong năm nay. Trong tháng này sẽ có một bản cập nhật dự báo về tăng trưởng cả năm và thị trường đang theo dõi chặt chẽ bản cập nhật này, bởi rất có thể các quy định thắt chặt và hạn chế được đưa ra trong tháng 7 vừa qua khi biến chủng Delta khiến số ca nhiễm tăng trở lại sẽ ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực tới triển vọng tăng trưởng trên.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.635 22.855 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.655 22.867 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.645 22.855 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.550
58.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.550
58.250
Vàng SJC 5c
57.550
58.270
Vàng nhẫn 9999
51.270
51.970
Vàng nữ trang 9999
50.870
51.670