Các ngân hàng Trung ương với những âu lo cho tương lai

10:54 | 20/01/2021

Các đợt bùng phát Covid-19 trở lại sẽ khiến các ngân hàng trung ương (NHTW) trên khắp các châu lục phải cân nhắc về cái giá phải trả cho tăng trưởng và hy vọng rằng việc tiêm chủng hàng loạt sẽ tạo điều kiện mở cửa lại nền kinh tế.

Các NHTW đang dự báo về viễn cảnh của một quý tiếp tục bị thiệt hại trong bối cảnh các đợt phong tỏa vẫn phải tiếp tục để ngăn chặn đại dịch. Hầu hết các nước đều mong muốn duy trì các hàng rào chính sách hiện tại mà không cam kết nới lỏng hơn nào khác vì họ luôn cảnh giác về khả năng lây lan của dịch bệnh.

cac ngan hang trung uong voi nhung au lo cho tuong lai
Ảnh minh họa

Nhưng với tỷ lệ lây nhiễm ngày càng cao và những hạn chế mới đối với hoạt động thương mại đang được áp dụng trên toàn thế giới, Chủ tịch NHTW châu Âu, Christine Lagarde và các đồng nghiệp của bà trên khắp thế giới chỉ có thể hy vọng rằng tốc độ tiêm chủng toàn cầu sẽ được đẩy nhanh hơn nữa để làm giảm tác động của Covid-19.

Điều này có thể sẽ được chia sẻ trong một cuộc họp dự kiến tới đây của NHTW các nước. Ngoài ECB, thành phần bao gồm các NHTW ở Brazil, Canada, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Na Uy, Nam Phi, Sri Lanka, Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraine.

Các nhà hoạch định chính sách ở Frankfurt (Đức) dự đoán sự bùng phát trở lại của Covid-19 có thể sẽ dẫn đến một loạt các biện pháp ngăn chặn mới và tiềm ẩn những hậu quả kinh tế nghiêm trọng. Tuy nhiên, khi khu vực đồng Euro bước vào đợt hạn chế xã hội lần thứ ba, các thị trường tài chính đã có tiếp nhận tốt với những phản ứng của ECB.

Tại Hoa Kỳ, sắp tới là phiên điều trần xác nhận của bà Yellen, Bộ trưởng Tài chính trước Ủy ban Tài chính Thượng viện, với nhiệm vụ được giao là giúp “giải ngân” gói kích thích trị giá 1,9 nghìn tỷ USD của Tổng thống đắc cử Joe Biden.

Còn ở Canada, mặc dù NHTW nước này không thực hiện bất kỳ thay đổi lớn nào về chính sách trong tuần này, nhưng sự khởi đầu yếu kém của nền kinh tế ngay đầu năm 2021 có thể khiến các quan chức phải cân nhắc về việc bơm thêm một số gói kích thích vào thị trường.

Với phần lớn khu vực châu Âu hiện đang bị khóa chặt như những ngày đầu áp dụng khi bắt đầu cuộc khủng hoảng Covid-19, cuộc họp đầu tiên của ECB năm 2021 vào thứ Năm tới sẽ là dịp để các nhà hoạch định chính sách đánh giá tác động của các gói kích thích mới dự kiến được công bố vào tháng 12/2021.

Các NHTW ở Na Uy và Ukraine cũng dự báo sẽ giữ nguyên lãi suất, mặc dù một số nhà phân tích dự kiến có thể sẽ được nới lỏng hơn để hỗ trợ nền kinh tế sau khi chính phủ công bố các biện pháp khóa chặt Covid-19 chặt chẽ hơn.

Thống đốc NHTW Thổ Nhĩ Kỳ Naci Agbal dự kiến sẽ giữ lãi suất chuẩn của quốc gia ở mức 17%, sau khi tăng 675 điểm cơ bản tích lũy kể từ khi ông nhận chức vào tháng 11/2020. Việc tăng giá đã giúp ổn định đồng lira, nhưng vẫn còn phải xem liệu chúng có đủ để kiềm chế lạm phát hay không?

Ông Haruhiko Kuroda, Thống đốc NHTW Nhật Bản dự kiến sẽ tiếp tục duy trì chính sách chính của mình. Giá tiêu dùng của Nhật Bản đã giảm với tốc độ nhanh nhất trong một thập kỷ và được dự kiến sẽ giảm hơn nữa.

Các quan chức chính phủ đang cố gắng đánh giá xem liệu có thể có một đợt “co thắt” kinh tế khác sắp xảy ra hay không? Dựa trên các báo cáo về sản xuất và dịch vụ trong tháng 1/2021, các chuyên gia kinh tế dự đoán sẽ có khả năng có một đợt suy thoái khác.

Thái Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.648 22.868 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.910 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.100
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
49.900
50.900