Cần cơ chế hỗ trợ đặc biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

08:56 | 15/10/2021

Cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đang chịu những tác động nặng nề của dịch bệnh, tuy nhiên mức độ tiếp cận các gói hỗ trợ hiện nay của nhóm doanh nghiệp này còn nhiều hạn chế. Theo chuyên gia, cần có cơ chế hỗ trợ đặc biệt, nhất là về dòng tiền để DNNVV có thể tồn tại và phục hồi sau dịch.

can co che ho tro dac biet cho doanh nghiep nho va vua San sẻ khó khăn với doanh nghiệp nhỏ và vừa
can co che ho tro dac biet cho doanh nghiep nho va vua Để hỗ trợ lãi suất cho DNNVV phát huy hiệu quả
can co che ho tro dac biet cho doanh nghiep nho va vua Quy định mới hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp sáng tạo

Hiện DNNVV chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp trong cả nước, có đóng góp quan trọng vào GDP, nhưng vì có quy mô nhỏ, sức chống chịu yếu nên đây cũng chính là nhóm doanh nghiệp dễ gặp nhiều tổn thương nhất trong đại dịch. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong 9 tháng đầu năm có 45,1 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn; 32,4 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể; 12,8 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể. Như vậy bình quân một tháng, có 10 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Trong số đó phần nhiều là các DNNVV.

can co che ho tro dac biet cho doanh nghiep nho va vua
Ảnh minh họa

Ông Trần Đăng Nam - Chủ tịch Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội cho biết, do dịch Covid-19 ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp cận khách hàng, dòng tiền, nhân công, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, phát sinh thêm nhiều chi phí, không đáp ứng được mô hình sản xuất “3 tại chỗ”, “1 cung đường 2 điểm đến”… đã khiến nhiều doanh nghiệp, nhất là các DNNVV đang đứng trước bờ vực phá sản khi mất khả năng thu hồi nợ, thanh toán.

Giới chuyên gia cho rằng, do tiềm lực tài chính hạn hẹp lại thiếu kế hoạch, chính sách quản trị rủi ro, nên các DNNVV rất dễ bị tổn thương trước những cú sốc của thị trường. Trong khi đại dịch Covid-19 là một cú sốc chưa có tiền tệ. Chính vì vậy, các chính sách hỗ trợ khi thiết kế cần “ưu ái” hơn nhóm DNNVV để tăng độ tiếp cận và hiệu quả.

Theo các khảo sát, khó khăn lớn nhất của các DNNVV lúc này chính là thiếu hụt dòng tiền. Vậy nên, cần có cơ chế hỗ trợ đặc biệt để nhóm doanh nghiệp này trước mắt là có thể tồn tại và phục hồi sau dịch.

Thực tế cho thấy, các nước đều có hỗ trợ riêng dành cho DNNVV. Đơn cử như Mỹ dành 510 tỷ USD để cung cấp các khoản vay, bảo lãnh nhằm ngăn doanh nghiệp phá sản, trong đó dùng 25 tỷ USD cho vay hỗ trợ các doanh nghiệp hàng không; Singapore có chương trình cho vay với DNNVV đến hết năm 2021, tổng trị giá 80 tỷ USD, trong đó 11 tỷ USD huy động từ nguồn dự trữ quốc gia. Indonesia cũng có gói kích thích kinh tế tương đối lớn, trong đó có kế hoạch hỗ trợ DNNVV, hỗ trợ lương, hỗ trợ trong thời gian giãn cách, đóng cửa, gia hạn các khoản nợ ngân hàng…

Trong khi đó tại Việt Nam, gói hỗ trợ còn mang tính ngắn hạn, chưa đủ mạnh để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp. Vì vậy các chuyên gia cho rằng, trong thời gian tới cần xem xét, ban hành chính sách hỗ trợ nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn, hỗ trợ thanh khoản cho các doanh nghiệp. Đồng thời, xem xét bổ sung gói hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp, nhất là DNNVV từ nguồn ngân sách nhà nước, tập trung vào các ngành, lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh như du lịch, vận tải, y tế, giáo dục đào tạo.

Liên minh DNNVV (SME) cũng vừa có Thư kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính lập Quỹ bảo lãnh cho vay đối với các doanh nghiệp này, hạn mức 100.000 tỷ đồng. SME kiến nghị quỹ sẽ hỗ trợ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp và không cần tài sản đảm bảo là bất động sản. Doanh nghiệp phải chứng minh hoạt động tốt trước dịch; phải có hợp đồng/đơn hàng xuất nhập khẩu hoặc bán hàng trong vòng 6 tháng tới để được nhận bảo lãnh.

Một trong những hỗ trợ được cộng đồng doanh nghiệp chờ đợi đó chính là gói cấp bù lãi suất 3.000 tỷ đồng tương đương quy mô dư nợ hơn 100.000 tỷ đồng sẽ được đưa ra trong thời gian tới để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Lãi suất cấp bù dự kiến trong khoảng từ 3 - 4%/năm.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều băn khoăn để doanh nghiệp chạm được tới gói tín dụng ưu đãi này. Bởi lẽ, theo như Luật Các TCTD, doanh nghiệp muốn vay vốn phải không có nợ xấu, có doanh thu, có lợi nhuận, có tài sản đảm bảo. Trong khi đó, đại dịch đã khiến cho hàng loạt doanh nghiệp, nhất là DNNVV lỗ lũy kế đang chờ đợi nguồn vốn ưu đãi.

Các chuyên gia cho rằng trong hoàn cảnh đặc biệt, cần có cơ chế đặc biệt để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận chính sách. Đơn cử như trong lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn, Chính phủ đã có Nghị định 55/2015/NĐ-CP (sau này là Nghị định 116/2018/NĐ-CP), trong đó có quy định trường hợp khoanh nợ khi có thiên tai dịch bệnh. Với trường hợp doanh nghiệp đang chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, cũng nên có những chính sách đặc biệt, riêng có. Để vừa đảm bảo sự hoạt động an toàn của các TCTD, vừa giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận được hỗ trợ.

Trong buổi họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý III năm 2021 diễn ra mới đây, ông Nguyễn Tuấn Anh - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho biết, gói cấp bù lãi suất là rất cần thiết đối với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nhằm khôi phục sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tuấn Anh, đến nay vẫn chưa có Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ về gói hỗ trợ này nên cần chờ thêm thời gian nữa. Khi gói cấp bù lãi suất được triển khai, NHNN sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành để tính toán đúng nhu cầu, xây dựng những kịch bản, phương thức để triển khai gói hỗ trợ này một cách hợp lý nhất.

Theo số liệu thống kê của NHNN, tính đến cuối tháng 9/2021, các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 278.000 khách hàng với dư nợ 238.000 tỷ đồng, lũy kế giá trị nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng từ 23/1/2020 khoảng 531.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, các TCTD đã cho vay mới lãi suất thấp hơn đạt trên 5,2 triệu tỷ đồng cho 800.000 khách hàng. Miễn, giảm, hạ lãi suất cho khoảng 1,7 triệu khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch với dư nợ gần 2,5 triệu tỷ đồng.

Lũy kế từ 23/1/2020 cuối tháng 9/2021, tổng số tiền lãi TCTD đã miễn, giảm, hạ cho khách hàng khoảng 27.000 tỷ đồng. Riêng 16 ngân hàng thương mại (chiếm 75% tổng dư nợ nền kinh tế) đã thực hiện có kết quả việc giảm lãi suất cho vay cho khách hàng theo cam kết với Hiệp hội ngân hàng, tổng số tiền lãi đã giảm lũy kế từ 15/7/2021 đến cuối tháng 9/2021 là 11.813 tỷ đồng, đạt 57,31% so với cam kết.

Hiện tín dụng ở các lĩnh vực ưu tiên có tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế, trong đó, DNNVV tăng 7,05%...

(Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/05/2020 của Chính phủ)

Quỳnh Trang

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.545 22.775 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.575 22.775 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.565 22.775 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.570 22.770 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.580 22.760 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.580 22.760 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.576 22.788 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.543 22.773 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.580 22.760 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.600 22.760 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.550
60.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.550
60.120
Vàng SJC 5c
59.550
60.270
Vàng nhẫn 9999
51.550
52.250
Vàng nữ trang 9999
51.250
51.950