Cần có chính sách dài hơi cho vấn đề thanh khoản

11:39 | 24/09/2012

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, việc có một lượng tiền đưa vào lưu thông qua các ngân hàng để giúp các ngân hàng tạo tính thanh khoản có lẽ là điều cần thiết. Tuy nhiên, giải pháp đó chỉ để giải quyết các khó khăn tức thời trong năm nay. Dài hơi hơn, chúng ta phải giải quyết được vấn đề nợ xấu, tái cấu trúc thành công các ngân hàng yếu kém…

Có nên tăng cung tiền?

TS. Nguyễn Trí Hiếu

Theo số liệu của NHNN, tăng trưởng tín dụng (TTTD) tính đến 7/9 mới đạt 1,82%. Trong khi đó tính đến hết tháng 8/2012, tăng trưởng huy động đạt trên 11%. Vậy tại sao các ngân hàng vẫn đang “mải miết” với các chương trình huy động. Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính ngân hàng, có 2 lý do chính: Thứ nhất, do thanh khoản. Đâu đó trong hệ thống ngân hàng vẫn còn một số “phần tử” không có thanh khoản cao. Có thể do vốn kẹt trong nợ xấu có nguy cơ “một đi không trở lại”, nên khi khách hàng đến rút tiền thì ngân hàng đó sẽ gặp vấn đề về thanh khoản. Vậy nên các ngân hàng này phải chạy đôn đáo huy động vốn trên cả thị trường 1 và 2. Xét trong bối cảnh đó thì việc đẩy lãi suất lên hoặc tiến hành các chương trình khuyến mại hấp dẫn để huy động vốn trên thị trường 1 xem ra là dễ làm nhất.

Lý do thứ 2, mặc dù có sự chênh lệch lớn giữa tăng trưởng huy động và tín dụng. Nhưng các ngân hàng vẫn đẩy mạnh huy động do một phần vốn được dùng để cho vay lẫn nhau trên thị trường 2 (liên ngân hàng); để mua trái phiếu Chính phủ; và một phần phục vụ hoạt động đầu tư của các ngân hàng.

Nhưng hiện có nhiều ngân hàng “hút” vốn huy động, chứ không chỉ “một số phần tử” như ông vừa đề cập?

Đây là một hiện tượng lạ và khá “ngược đời” giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam với hệ thống ngân hàng ở các nền kinh tế phát triển. Ở các nền kinh tế phát triển, những ngân hàng lớn sẽ dẫn dắt thị trường. Khi các ngân hàng này tăng hay giảm lãi suất thì các ngân hàng nhỏ phải “lục tục” theo sau. Ở Việt Nam thì ngược lại, các anh bé – ngân hàng nhỏ, yếu - mới là những người dẫn dắt thị trường. Khi họ thiếu thanh khoản và tăng lãi suất huy động lên thì những anh còn lại, kể cả ngân hàng lớn cũng phải “chạy” theo nếu không sẽ mất khách hàng.


Ảnh: MH

Nhưng hiện nay, trong khi ngân hàng lớn đẩy lãi suất lên ở các kỳ hạn dài, thì một số ngân hàng nhỏ lại đang tích cực huy động với các kỳ hạn ngắn?

Tôi nghĩ vấn đề ở đây là do các ngân hàng đang “khát” vốn ngắn hạn để đảm bảo các yêu cầu về thanh khoản. Thành ra, đây là một hiện tượng để giải cơn khát tức thời, nên mang tính tình huống nhiều hơn là nằm trong một kế hoạch kinh doanh dài hơi của các ngân hàng. Và đó chính là một trong những rủi ro hiện nay có thể gây căng thẳng thanh khoản.

Một số ngân hàng đưa ra lý do phải chuẩn bị nguồn vốn cho nhu cầu tín dụng tăng cao vào cuối năm, ông có cùng quan điểm này?

Cũng là một lý do, vì đây là một hiện tượng mang tính chu kỳ, mùa vụ đã lặp đi lặp lại từ trước đến nay. Thường vào cuối năm thì nhu cầu tín dụng cao hơn do cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tăng, trong khi nguồn huy động bị giảm sút, và tiền lại bị rút ra khỏi ngân hàng nhiều hơn. Thành ra năm nào cũng vậy, cuối năm là dịp mà thanh khoản rất dễ nóng lên, nên việc các ngân hàng phải chủ động đón đầu huy động vốn vào thời điểm này cũng là điều có thể hiểu được.

Vậy giải pháp đặt ra là gì để có sự cân bằng tốt hơn giữa nguồn vốn huy động và cho vay?

Đây là một bài toán khó, vì hiện chúng ta đang trong giai đoạn kiềm chế lạm phát tốt. Giờ nếu mình thả lỏng ra, bơm mạnh tiền vào lưu thông thì có thể lại làm lạm phát bùng lên. Như vậy, chúng ta đang đứng ở một ngã ba đường: Một đằng muốn kiểm soát, ổn định đồng tiền; một đằng nền kinh tế đang trì trệ. Dù rất khó khăn nhưng có lẽ chúng ta cũng phải có một lựa chọn làm sao hài hoà được cả hai. Tức là có thể ta phải đặt vấn đề lạm phát nhẹ nhàng hơn một chút để hỗ trợ thanh khoản và rộng ra là nền kinh tế trong lúc này.

Xem xét theo nghĩa đó thì từ nay đến cuối năm, việc có một lượng tiền đưa vào lưu thông qua các ngân hàng để giúp các ngân hàng tạo tính thanh khoản có lẽ là điều cần thiết. Đưa ra với mức độ nào là vấn đề các cơ quan chức năng cần tính toán. Dĩ nhiên một liều lượng lớn thì không nên, nhưng cũng phải đủ để giúp thanh khoản cho các ngân hàng. Tuy nhiên, giải pháp đó chỉ để giải quyết các khó khăn tức thời trong năm nay. Dài hơi hơn, chúng ta phải giải quyết được vấn đề nợ xấu, tái cấu trúc thành công các ngân hàng yếu kém…

Đỗ Lê thực hiện

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.601 25.725 29.563 30.187 201,88 211,10
BIDV 23.170 23.310 24.945 25.709 29.697 30.302 203,03 210,54
VietinBank 23.174 23.324 24.860 25.695 29.626 30.266 206,86 211,86
Agribank 23.180 23.285 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.874 25.239 29.748 30.185 207,03 210,07
ACB 23.170 23.300 24.879 25.233 29.830 30.177 207,00 209,94
Sacombank 23.149 23.311 24.891 25.346 29.813 30.218 206,32 210,89
Techcombank 23.155 23.315 24.646 25.608 29.435 30.381 205,75 212,50
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.280 24.930 25.250 29.790 30.180 204,00 209,70
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.300
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.300
48.200
Vàng SJC 5c
47.300
48.220
Vàng nhẫn 9999
47.000
48.000
Vàng nữ trang 9999
46.700
48.000