Cân đối cán cân thương mại để xuất khẩu bền vững

10:21 | 08/04/2022

Để phát triển xuất khẩu bền vững, việc tính toán để cân bằng cán cân xuất nhập khẩu cần được quan tâm đúng mức.

can doi can can thuong mai de xuat khau ben vung Cải thiện điểm yếu của xuất khẩu Việt
can doi can can thuong mai de xuat khau ben vung Chủ động và tích cực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu
can doi can can thuong mai de xuat khau ben vung Hướng tới thị trường xuất khẩu bền vững

Hoạt động thương mại quốc tế hồi phục mạnh mẽ trong tháng 3/2022 với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 66,73 tỷ USD, tăng 36,8% so với tháng trước và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung trong quý đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 176,35 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 12,9%; nhập khẩu tăng 15,9%. Cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 809 triệu USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 2,76 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,16 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 6,97 tỷ USD.

can doi can can thuong mai de xuat khau ben vung
Ảnh minh họa

Trước đó năm 2021, tổng trị giá xuất, nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 668,55 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, tương ứng tăng 123,23 tỷ USD. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 336,31 tỷ USD, tăng 19%, tương ứng tăng 53,68 tỷ USD và nhập khẩu đạt 332,23 tỷ USD, tăng 26,5%, tương ứng tăng 69,54 tỷ USD. Tính cả năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa của cả nước thặng dư 4,08 tỷ USD.

Tuy nhiên thống kê cho thấy có sự chênh lệch rất lớn giữa các thị trường và khu vực. Như năm 2021, Việt Nam nhập siêu chủ yếu ở các thị trường lớn của khu vực châu Á và xuất siêu ở thị trường Mỹ và châu Âu. Cụ thể như khu vực châu Á, năm 2021, giá trị Việt Nam xuất khẩu 161,94 tỷ USD thì nhập khẩu 271,46 tỷ USD, nhập siêu 109,52 tỷ USD, trong đó, khu vực ASEAN, Việt Nam xuất khẩu 28,77 tỷ USD, nhập khẩu 41,13 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập siêu lớn nhất với giá trị gần 54 tỷ USD, khi xuất khẩu đạt 55,95 tỷ USD, trong khi nhập khẩu 109,87 tỷ USD; xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 21,95 tỷ USD, nhập khẩu 56,16 tỷ USD; thị trường Nhật Bản có cán cân thương mại tương đối cân bằng khi xuất khẩu đạt 20,13 tỷ USD, nhập khẩu 22,65 tỷ USD… Việt Nam xuất siêu khá mạnh mẽ sang thị trường Mỹ và EU. Cụ thể với thị trường Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam lên tới 96,29 tỷ USD, nhưng nhập khẩu chỉ đạt 15,27 tỷ USD, hay tại EU, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 40,06 tỷ USD, trong khi nhập khẩu chỉ đạt 16,89 tỷ USD… Đến nay, tình trạng này cũng không nhiều cải thiện.

Theo các chuyên gia thương mại, việc thặng dư thương mại quá lớn với thị trường Mỹ và EU như vậy chưa chắc là mừng, bởi lẽ các nước nhập siêu sẽ sử dụng nhiều hơn các biện pháp phòng vệ thương mại trong tương lai để bảo vệ hàng hóa trong nước. Hàng hóa của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn. Để phát triển xuất khẩu bền vững, việc tính toán để cân bằng cán cân xuất nhập khẩu cần được quan tâm đúng mức.

Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Hồng Diên cho biết, trong thương mại quốc tế, phương châm đặt ra là phải cân đối cán cân hai chiều xuất - nhập. Tuy nhiên, các ngành sản xuất của chúng ta hiện nay để có được nguyên liệu, vật tư sản xuất thì hầu hết phải đi nhập khẩu, trong đó nhập nhiều nhất từ thị trường Trung Quốc. “Hàng hóa từ Trung Quốc rất cần với chúng ta vì là nguyên liệu đầu vào của các ngành sản xuất. Vì vậy, trong tương lai, phải tính toán để từ vật tư nguyên liệu nhập vào, cần làm ra hàng hóa gì có giá trị xuất khẩu cao sang Trung Quốc để cân đối hai chiều”, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho biết.

Với thị trường Hoa Kỳ, Việt Nam đang xuất siêu chủ yếu bởi các sản phẩm nông sản, thực phẩm và một số mặt hàng công nghiệp do các liên doanh tại Việt Nam sản xuất. Kim ngạch nhập khẩu với Hoa Kỳ còn hạn chế là bởi những mặt hàng mà doanh nghiệp trong nước cần thì những thị trường khác như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc lại hấp dẫn hơn về giá.

“Để nền kinh tế của nước ta phải chủ động hơn khi hội nhập, chúng tôi đã đề xuất là sẽ phải đẩy mạnh phát triển những ngành công nghiệp có tính chất nền tảng, trước hết là công nghiệp vật liệu, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp hóa chất, điện tử và công nghiệp chế tạo… nếu không, chúng ta sẽ mãi là thị trường tiêu thụ của thế giới”, Bộ trưởng cho hay.

Giải thích về lý do xuất khẩu hàng hóa, nhất là hàng nông, thủy, hải sản sang châu Âu thời gian qua gặp nhiều khó khăn, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho biết, đây là thị trường rất khó tính. Tiêu chuẩn các sản phẩm hàng hóa, nhất là nông sản, hải sản rất cao. Bên cạnh một số doanh nghiệp xuất khẩu thành công, cũng còn rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu các sản phẩm chưa tốt và không đáp ứng được tiêu chuẩn thị trường này.

“Các doanh nghiệp và người sản xuất cần cố gắng tuân thủ quy luật thị trường, bám sát các tiêu chuẩn, tiêu chí của các thị trường và cố gắng tận dụng các thương vụ để tổ chức sản xuất các sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường. Chỉ khi nào chúng ta sản xuất các sản phẩm hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường mới có thể xuất khẩu thành công vào EU”, Bộ trưởng khuyến cáo.

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650